Sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma

  

Sư tổ Bồ Đề Đạt Ma, tên thật là Bồ Đề Đa La, con trai thứ ba của vua Nam Thiên Trúc, thuộc dòng Sát Đế Lợi. Về sau Ngài đi tu và gặp Tổ Bát Nhã Đa La, đời thứ 27 của Phật giáo Thiên Trúc. Ngài được truyền Y Bát làm Tổ đời 28. Sau đó vào ngày 21 tháng 7 năm Mậu Tuất (năm 518 sau tây Lịch) Ngài lên thuyền vượt biển sang trung Hoa. Ngài tới Quảng Châu vào ngày 1 tháng 10 năm Đinh Mùi. Vua Lương Võ Đế hay tin liền mời Ngài về Kim Lăng để hội kiến, nhưng vì ý không hợp nhau nên chia tay.. Đạt ma Tổ Sư bứt một cọng lau ném xuống sông, rồi đứng trên đó mà vượt Trường Giang (cước đạp lô điệp quá giang). Năm 1307, ở Tung Sơn Thiếu Lâm Tự có lập một tượng đá, tạc cảnh Ngài đạp cọng lau qua sông. Năm Hiếu Xương thứ ba, đời Bắc Ngụy (527), Ngài Bồ Đề Đạt Ma đến Tung Sơn Tự. Tại đây, Ngài thấy nhiều nhà sư có thể trạng yếu đuối, thường hay ngủ gật trong lúc Ngài thuyết giảng và không chịu nổi với khí lạnh bên ngoài của núi rừng xâm nhập. Vì thế, Ngài quyết định tham thiền để tìm cách giúp đỡ những nhà sư này. Kết quả sau 9 năm diện bích trong động thiếu Thất, Ngài đã đúc kết hết thảy tinh yếu vào trong hai cuốn Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh, trở thành tỵ tổ của Thiếu Lâm võ công và cũng là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Ngay từ bé ngài đã tỏ ra là một người liễu đạo và được truyền tâm ấn. Ngài du hành sang Trung Hoa ngồi trong động Thiếu Thất, Lương Võ Đế lúc bấy giờ nghe dân chúng đồn có một người tu ngồi thiền định trong núi ba năm cũng có ý mời ngài về kinh. Nhưng khi đến ngài không tiếp, có một vị tiểu tăng tên Huệ Khả nghe thấy vậy liền tìm đến. Ngài Huệ Khả đến cúi đầu xin được nghe pháp, Tổ cũng làm thinh. Ngài Huệ Khả nghĩ:”Xưa kia Đức Phật vì muốn cầu Pháp từ đổ dầu vào thân thiêu cháy để cúng dường cho đến tự chặt thân mình ra làm trăm mảnh mới được đức Phật ban cho pháp. Vậy ta cũng phải cầu pháp như vậy”. Liền đi mượn dao đến để chặt cánh tay, cảm kích trước lòng cầu đạo của ngài Huệ Khả. Tổ liền hỏi:
- Người đến tìm ta có việc gì?
Ngài Huệ Khả đáp:
- Con đến cầu pháp an tâm
Tổ liền nói:
- Ngươi đem tâm ra đây ta an cho
Ngay câu này Ngài Huệ Khả tự quán chiếu lại thấy không có tâm nào để an bèn sụp lạy liễu ngộ chân lý.
Tổ nói: “Ta đã an tâm cho ông rồi”..
Nên biết ý tổ ở đây là: Tâm không an là tâm xáo động chạy theo ngoại cảnh, chạy theo hình tướng. Giống như mặt hồ, khi phẳng lặng, khi gợn sóng cứ liên tục như vậy, nhưng thể tánh của nước là trong lành, mát mẻ, hay hòa tan mới là thể chất, mà cái thể tính đó nói bằng lời đâu có đúng, do tự mỗi người cảm nhận. Tổ Huệ Khả ngộ ra cái lý này tự thấy sự giả tạo của phiền não, của không tánh rồi.

Tổ Bát-nhã-đa-la sau khi truyền tâm ấn cho tổ Bồ Đề Đạt Ma biết rằng ngài có duyên với việc hoằng pháp tại Trung Hoa. Tổ hoằng pháp từ năm 470-543 sau Công Nguyên. Sau khi đến, Sư nhận lời mời của Vũ Đế đi Nam Kinh. Cuộc gặp gỡ giữa Bồ-đề-đạt-ma và Vũ Đế được các ngữ lục ghi lại như sau:
Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây trong nước mình nhiều chùa chiền, bảo tháp. Vũ Đế hỏi nhà sư Ấn Độ: “Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?”
Đạt Ma đáp: “Không có công đức.”
- “Tại sao không công đức.”
- “Bởi vì những việc vua làm là nhân “hữu lậu”, chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.”
- “Vậy công đức chân thật là gì?”
Sư đáp: “Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.”
Vua lại hỏi: “Nghĩa tối cao của thánh đế là gì?”
- “Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh.”
- “Ai đang đối diện với trẫm đây?”
- “Tôi không biết.”
Ý nghĩa của cuộc đối thoại này như sau: Vua Lương Vũ Đế lấy việc xây chùa (việc hữu hình) hỏi tổ rằng mình làm việc đó có được công đức gì không? Đức Phật dạy làm việc công đức thì muốn việc được thành tựu phải không thấy có người làm công đức, không nghĩ đến lợi được mà làm công đức. Ngay chỗ này, vua Lương đã sai rồi. Làm công đức như vậy chỉ được phước hữu lậu là giàu sang, không bệnh tật v.v… cao nhất là được phước sinh lên trời mà thôi. Công đức chân thật là giác ngộ tự tâm, thành Phật đó mới là công đức vô lậu. Đã giác ngộ được như vậy thì không có giới hạn, không có Phật cũng chẳng có Thánh. Vua không ngộ được ra hỏi thêm: “Ai đối diện với trẫm đây”. Tổ đã giác ngộ không có 4 tướng: ta, người, thọ nhận, chúng sinh nên nói “Tôi không biết”.

Sư có ý muốn hồi hương(Ấn độ), trước khi về, gọi đệ tử truyền pháp: “Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình”.
Đạo Phó bạch: “Theo chỗ thấy của tôi, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự.” (Văn tự chỉ là một khía cạnh của Phật tánh)
Sư đáp: “Ông được lớp da của tôi rồi.”
Ni Tổng Trì nói: “Chỗ giải của tôi như cái mừng vui thấy nước Phật (tâm) bất động, thấy được một lần, sau không thấy lại nữa.” (Phật tánh vốn không sinh không diệt, sao nói thấy một lần rồi không thấy lại nữa)
Sư nói: “Bà được phần thịt của tôi rồi.”
Đạo Dục, một đệ tử khác, bạch: “Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của tôi là không một pháp nào khả được.” (Không pháp nào có thể được nghe cũng ở lý trung đạo nhưng vẫn chưa phải rốt ráo)
Sư đáp: “Ông được bộ xương của tôi rồi.”
Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Sư bảo: “Ngươi đã được phần tuỷ của ta.” (Phật tánh không thể dùng văn tự lời nói để diễn tả. Giống như nói ăn ngon, ngon là một cảm giác, tùy thuộc vào vị giác mỗi người, ai ăn người đó biết đâu có diễn tả được ngon là như thế nào?)
Rồi ngó Huệ Khả, Sư nói tiếp: “Xưa Như Lai trao ‘Chánh pháp nhãn tạng’ cho Bồ tát Ca Diếp, từ Ca Diếp chánh pháp được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ngươi; nhà ngươi khá nắm giữ, luôn với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu biểu cho một việc, ngươi nên khá biết.”(Tổ Ca Diếp nhận tâm ấn từ Phật Thích Ca, “Liên Hoa Vi Tiếu”, Phật Thích Ca giơ bông sen lên, đại chúng bình luận abc, Tổ Ca Diếp mỉm cười. Phật Thích Ca truyên tâm ấn).
Huệ Khả bạch: “Thỉnh Sư chỉ bảo cho.”
Sư nói: “Trong, truyền pháp ấn để khế chứng tâm; ngoài, trao cà sa để định tông chỉ. Đời sau, trong cảnh cạnh tranh, nếu có người hỏi ngươi con cái nhà ai, bằng vào đâu mà nói đắc pháp, lấy gì chứng minh, thì ngươi đưa bài kệ của ta và áo cà sa ra làm bằng. Hai trăm năm sau khi ta diệt rồi, việc truyền y dừng lại. Chừng ấy, đâu đâu người hiểu đạo và nói lý rất nhiều, còn người hành đạo và thông lý rất ít, vậy ngươi nên cố xiển dương đạo pháp, đừng khinh nhờn những người chưa ngộ. Bây giờ hãy nghe bài kệ của ta:”
Ngô bổn lai tự độ
Truyền pháp độ mê tình
Nhất hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành
Ý nghĩa: Ta đến đất này tự chứng ngộ, tự tìm phật tánh nơi mình không có tìm ở ngoài. Truyền pháp để độ cho chúng sinh. Một hoa nở ra năm cánh, năm ngành. Ý nói từ Tổ truyền xuống 5 đời nữa đến Ngũ Tổ là Hoằng Nhẫn truyền cho 2 đệ tử là trong đó có Lục Tổ Tuệ Năng. Còn từ đó trở đi phát tán rộng rãi. Kết quả tự nhiên thành. Phật tánh vốn tự ngộ, tự chứng chứ không phải do bên ngoài.

Leave a Reply

You must be logged in to post a comment.