Một số tượng Phật Tam Thế

  
Tượng Tây Phương Tam Thánh cao 81cm

Tượng Tây Phương Tam Thánh cao 81cm

Trong một ngôi chùa mà Phật điện còn tương đối đầy đủ thì bộ tượng Phật Tam Thế thông thường phải dược đặt ở vị trí cao nhất, xa nhất và do đó mà thâm nghiêm nhất, được các Phật tử tôn kính nhất. Thật ra, “Tam Thế ” chỉ là tên gọi tắt theo thói quen của người Việt, để chỉ các vị Phật ở ba thời gian nối tiếp nhau là quá khứ, hiện tại và vị lai. Tên gọi đầy đủ có nhiều cách, phổ cập là “Tam Thế Tam Thiên Phật” tức 3.000 đức Phật gồm mỗi thời 1.000 vị, hay một tên đầy đủ là “TamThế thường trụ diệu pháp thân” nhằm chỉ cái hình tướng chân thật, sáng láng, kỳ diệu, luôn tồn tại khắp không gian và xuyên thời gian của các đức Phật. Theo Từ điển Phật học Hán Việt (Hà Nội, 1994) thì Phật Quá Khứ như đức Phật Ca Diếp, Phật Hiện Tại là đức Phật Thích Ca Mầu Ni và Phật Vị Lai như đức Phật Di Lặc còn gọi là Từ Thị.

Thời Lý không để lại pho tượng Tam Thế nào, nhưng chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Thanh Hóa) còn bia dựng năm Hội Tường Đại Khánh 9 (1118) cho biết có ba pho tượng Như Lai, chính giữa là tượng Phật Thích Ca Mầu Ni, tượng Ca Diếp đứng một bên, tượng Từ Thị đứng một bên. Như vậy ngay từ thời Lý, trên Phật điện Việt Nam đã có bộ tượng Tam Thế Phật, trong đó Phật Hiện Tại được bày ở giữa. ở chùa trên tượng Tam Thế không còn, nhưng vẫn còn ba bệ tượng tòa sen, mỗi bệ thích hợp với một pho tượng.

Thời Trần chưa tìm được pho tượng Phật nào, song đã tìm được khá nhiều bệ đá tòa sen khối hộp mà văn bia đương thời gọi là “Phật thạch bàn” có thể hiểu là bàn thờ Phật hay bệ tượng Phật. Hầu hết những bệ đá này ở vị trí cuối cùng của điện Phật, ứng với vị trí đặt tượng Tam Thế. Bệ đá này khối chữ nhật lớn, thích hợp cho việc đặt ba pho tượng, như vậy có thể tin tượng Tam Thế vẫn tồn tại ở thời Trần.

+ Đến thời Lê sơ, nói chung Phật giáo bị nhà nước hạn chế, song trong dân gian vẫn phát triển. ở xứ Bắc, cùng với tượng Quan Âm Nam Hải ở chùa Cung Kiệm (Bắc Ninh ) tạc năm Thái Hòa 7 (1449), chùa Khám Lạng (Bắc Giang) có bệ đá tòa sen khối hộp về cơ bản như bệ thời Trần, tạc năm Thuận Thiên 5 (1432) và hai ( có thể 3 nhưng đã bị mất 1 nay xây gạch thay vào ) bệ đá tòa sen mỗi bệ thích hợp với một pho tượng, trên đó khắc rõ vào năm Hồng Đức 25 (1494) dân địa phương đã ” khởi tạo Phật tam tôn”, có thể hiểu là làm ba pho tượng Phật. Những chiếc bệ này được đặt ở vị trí cao nhất và xa nhất, hiện còn ba pho Tam Thế đặt lên trên. Những pho tựơng Tam Thế này có phong cách là tiền thân của Tam Thế thời Mạc, chưa thật hoàn chỉnh như các bộ Tam Thế từ thời Mạc trở về sau.

Ba pho Tam Thế này nhỏ hơn người thực một chút, cùng kích thước, ở thế ngồi thiền bán kiết trên tòa sen gỗ rồi lại kê trên bệ đá, cao 60cm trong khi riêng đầu đã cao 22cm, cả ba đều kết ấn Tam muội để ngửa hai bàn tay chồng lên nhau trong lòng sao cho hai đầu ngón tay cái chạm nhau. Đầu tượng cao nhưng chưa có nhục kháo, tóc xoắn to có phần thô, trong đó một xoắn tóc phía trước ở hàng thứ ba (dưới lên) được thay bằng núm bẹt nhu nhú gợi ra bạch ngọc hào. Mặt tượng trái xoan đầy đặn tạo vẻ đôn hậu, thân mình thô đầy gắn với quan niệm đẹp của người lao động gần với tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ thuộc thời Mạc. Tượng có tai dầy và dài tới 11cm (so với mặt 12cm) không đeo hoa đã gần chấm vai, mắt lim dim như muốn soi dọi nội tâm, cổ ngắn vẫn rõ ba ngấn, ngực để trần không trang trí. Ngoài áo dài có ống tay rộng còn khoác la bào như lá sen phủ hai vai, các nếp gấp của áo có phần đơn giản với mấy đường hằn. Toàn thể tượng thu về một khối tháp đóng kín , hai nửa cân đối, tĩnh lặng trong đường viền rõ ràng. (ảnh 52)
h52-184.jpg (78629 bytes)

52- Bộ Tam Thế chùa Khám Lạng

+ Sang thời Mạc, tượng Tam thế còn lại khá nhiều. Tuy chưa tìm được pho nào có niên đại tuyệt đối, song về phong cách được phần lớn người nghiên cứu mỹ thuật chấp nhận. ở đây có sự xê dịch sang đầu thế kỷ XVII.

Chùa Ngọc Khám (tên chữ Linh ứng Tự – Bắc Ninh) còn ba bệ đá tòa sen phỏng theo kiểu bệ tượng Phật thời Lý, song hình chạm lại mang phong cách thời Trần đến thời Mạc, trong đó hình muộn là cặp sừng vắt chéo trên cây vũ trụ và và sóng nước.

h53-184.jpg (47176 bytes)
53-Tam Thế chùa Ngọc Khám (Pho bên phải)

Trong tấm bia “Trùng tu Linh ứng Tự các chung bi” (bia về việc làm lại gác chuông chùa Linh ứng) dựng năm Hoằng Định 13 (1612) ngoài việc xác nhận làm lại một số kiến trúc, có ” sửa 37 pho tượng”, như vậy trước đó ở đây đã có nhiều tượng. Nhưng một thời chùa bị phá hủy chỉ còn ba pho tượng trong bộ Tam Thế, bằng đá khối lớn, tượng ở thế ngồi tĩnh tọa cao 145cm, nếu kể cả bệ cao tới 248cm. Xác định vị trí theo bệ thì ba pho tượng cơ bản giống nhau: Đầu to, sọ nở, trên đỉnh đầu có nhục kháo cao to, phía dưới nhục kháo ở đằng trước có bạch ngọc hào, mặt đầy đặn, thân mình nở nang ngực đeo dây anh lạc, các nếp áo sơ sài. Toàn thân trong khối đóng kín , mập thô, toàn thân chỉ cao gấp ba đầu. Tuy nhiên cũng có một vài chi tiết khác nhau như trong cách ngồi thiền, pho giữa có vạt aó che kín chân, hai pho bên thì để hở bàn chân bên phải; pho giữa tay trái để úp trên đầu gối còn tay phải để ngửa ra với ngón tay chỉ lên, pho bên phải hai tay để ngửa trong lòng kết ấn Tam muội, pho bên trái để tay gần giống pho giữa chỉ khác tay trái để ngửa và hướng vào trong lòng. Phải chăng ở đây Phật Hiện Tại ở giữa, bên phải là Phật Quá Khứ, bên trái là Phật Vị Lai? (ảnh 53).

Tượng Tam Thế bằng gỗ thời Mạc còn lại khá nhiều như ở chùa Thông và chùa Sở (Hà Tây), chùa Dâu (Bắc Ninh ), chùa Lệ Mật và chùa Nành (Hà Nội), chùa Trà Cổ (Quảng Ninh)… Những tượng Tam Thế ở các chùa này lớn xấp xỉ người thực, toàn thân thếp vàng ròng, trừ đầu sơn đen, dáng chung không khác tượng đá chùa Ngọc Khám là bao, song một số chùa trên ngực tượng không đeo dây anh lạc mà lại nổi lên chữ vạn ( ) như ở chùa Dâu. Đây là chữ vạn sớm nhất được biết. Niên đại của những tượng Tam Thế này còn được xác định bởi những đồ án trang trí điển hình của thời Mạc là cặp sừng vắt chéo trên nền cây vũ trụ và sóng nước, một số nơi tòa sen còn được một con sư tử đội, hình sư tử được làm hài hước giống con cóc như ở chùa Sở và chùa Ngọc Mạch (Hà Tây), chùa Dâu (Bắc Ninh)…

+ Đến thời Lê trung hưng, tượng Tam Thế đạt đỉnh cao và cũng phong phú kiểu loại hơn trước, điển hình là hai dạng: Dạng quấn mảnh vải chéo từ vai trái chéo xuống sườn phải để hở ngực và tay phải, dạng có vành hào quang phía sau.

Dạng thứ nhất thấy ở chùa Côn Sơn và chùa Hiệp Thuận. Chùa Côn Sơn (tên chữ đầy đủ là Côn Sơn Thiên Tư Phúc Tự – Hải Dương) ở Thượng điện có bộ Tam Thế không bày một hàng ngang ở cuối cùng, mà pho giữa được đưa xuống hàng thứ hai đổi chỗ cho pho A Di Đà. Nếu đưa trở lại, chúng ta sẽ có một bộ Tam Thế đầy đủ được đặt đúng chỗ. Không gian ở đây rộng thoáng nên bộ Tam Thế thuộc loại lớn. Riêng tượng cao 135cm, ngồi trên đài sen cao 43cm nữa, đấy là không kể phần bệ gỗ và bệ gạch. Ba pho được tạo hình giống nhau, mình bụ bẫm, đầu to nhưng nhục kháo cao ( đầu dài 52cm, trong đó nhục kháo chiếm 14cm) nên tượng vẫn cân đối, các khối trên toàn thân luôn căng mập, ngực nổi bộ vú đầy. Tượng khoác áo cà sa chéo từ vai trái xuống sườn phải để hở bộ ngực trần và cả cánh tay phải, nhưng ngực lại đeo dây anh lạc và tay đeo vòng ở cả cổ tay và cánh tay trên. áo không trang trí, chỉ có một số nếp gấp. Hai pho Tam Thế ở hàng trên thì pho bên trái tay kết ấn Tam muội, pho bên phải một tay để úp trên đùi một tay đưa ra chỉ hai ngón lên trời. Còn pho ở giữa thuộc hàng dưới có tay phải duỗi ra để úp lên đầu gối và tay trái đưa ngang vào trong lòng để ngửa với hạt minh châu biểu hiện trí tuệ sáng láng. Như vậy về động tác tay mỗi pho có một biểu hiện. Tòa sen làm chỗ ngồi của tượng mang đặc trưng từ thời Mạc còn lại với những cánh sen căng phồng lại thêm đường viền thành cánh sen nhỏ bên trong còn thêm hoa mai ở giữa. Có thể bộ Tam Thế này thuộc lần làm tượng của nhà sư Mai Trí Bản ở đầu thế kỷ XVII như văn bia chùa đã xác nhận. (ảnh 54)

h54-184.jpg (48912 bytes)

54- Tam Thế chùa Côn Sơn (pho giữa)

Chùa Hiệp Thuận (tên chữ Bà Tề Tự – Hà Tây) có bộ tượng Tam Thế về cơ bản giống Tam Thế chùa Côn Sơn, cao 93cm ( riêng đầu 37cm) nhỉnh hơn người thực. Để nhấn mạnh ngôn ngữ mảng khối, tượng phát triển bề ngang với mặt ngắn và bần, bộ ngực đồ sộ nổi bật cặp vú căng đầy sức sống và gắn vào giữa ngực có chữ Vạn ( ) ngược chiều quay kim đồng hồ. Việc trật vai phải của những bộ tượng này như để biểu thị sự tôn kính bề trên mà ở đây là Phật kính pháp. Cánh tay cũng đeo hai đợt vòng và nhục kháo cao. Trong cách ngồi thiền, hai đầu gối nhô ra tạo góc lòng chân nhọn và phù hợp với tòa sen hình quả thận, gây ra khoảng lõm để tôn những chỗ khối nhô của tượng. Ngay khuôn mặt cũng có nét như gợi nguồn gốc Phật người ấn Độ với đôi lông mày cao đậm lộ rõ, mũi to cánh nở chóp cao, môi dày hơi mỉm cười, tai to chảy sát vai và có lỗ ở dái tai để có thể đeo khuyên. Về thế tay, hai pho Tam Thế ngoài ở chùa Hiệp Thuận lại để tay giống như pho Tam Thế giữa của chùa Côn Sơn, nhưng để đối xứng thì tay ngoài úp trên đầu gối duỗi các ngón, còn tay trong đưa vào lòng để ngửa, như vậy cả hai pho đều như đang thuyết pháp nhờ đất chứng giám, còn pho Tam Thế giữa kết ấn Chuẩn đề có biến thể một chút để tay phải ôm lấy tay trái nhưng các ngón trỏ và ngón cái duỗi thẳng, đầu ngón trỏ ở dưới cằm, ngón út đeo nhẫn. Bộ Tam Thế này tạo hình thoải mái, không câu nệ, khỏe khoắn, dứt khoát và sôi nổi vẫn là sự chuyển tiếp từ thời Mạc sang thơì Lê trung hưng. (ảnh 55)

h55-184.jpg (57220 bytes)

55- Bộ Tam Thế chùa bà Tề

Dạng tượng Tam Thế có vành hào quang phía sau, tiêu biểu là ở chùa Bút Tháp và chùa Tây Phương. Chùa Bút Tháp (tên chữ là Ninh Phúc Tự – Bắc Ninh) có bộ tượng Tam Thế đặt ở vị trí cao nhất của gian giữa Thượng điện, thuộc loại tượng lớn, riêng tượng cao 175cm, kể cả đài sen và bệ tới 270cm.Mặt tượng trở nên tròn hơn và do đó càng đầy đặn, mình vần mập mạp, đều ngồi bán kiết để chân phải ngửa lòng trên bắp vế chân trái, áo cà sa mở rộng hai tà để lộ rõ bộ ngực đeo dây anh lạc nhiều chi tiết khá diêm dúa.

h56-184.jpg (56400 bytes)
56 – Bộ tam Thế chùa
Bút Tháp

Pho Tam Thế giữa kết ấn Tam muội là Phật Quá Khứ, pho bên phải hai tay duỗi tự nhiên vào trong lòng để ngửa trong đó tay trái cầm viên ngọc, như đang bấm độn xin đất chứng giám là Phật Hiện Tại, còn pho bên trái một tay để ngửa trên đùi còn tay kia giơ lên duỗi thẳng ngón giữa và ngón trỏ là biểu hiện của Phật Vị Lai . Tượng ngồi trên tòa sen được làm kỹ với những cánh chẳng những viền thành cánh sen cuộn đầu mà còn có cả cụm mây đao. Đặc biệt phía sau tượng có vòng hào quang mang hình một cánh sen che úp cho tượng, bên trong có băng diềm trang trí hoa dây, sau gáy tượng là hình tròn thếp vàng với nhiều điểm vạch ở xung quanh, phía trên đỉnh vòng sáng có đôi chim liền cánh hay con chim hai đầu, ở vòng hào quang pho giữa chim có hình đầu người, là loại chim thiêng biết giảng đạo lý nhà Phật, mang tên là Cọng Mạng, Sanh Sanh hay Mạng Mạng. Cũng cần thấy bệ tượng vuông chém góc dưới đài sen ngoài những ô hoa trang trí, ở mỗi góc bệ phần dưới còn có tượng con quỷ nhỏ dáng người vừa dữ tợn vừa hài hước trong thế dạng chân giơ tay đỡ tầng bệ trên. Bệ tượng này hẳn được làm vào khoảng giữa thế kỷ XVII. (ảnh 56)

Cuối cùng phải nói tới bộ tượng Tam Thế chùa Tây Phương (tên chữ Tây Phương Sơn Sùng Phúc Tự – Hà Tây) được đặt ở tòa chùa trong cùng với tượng nhiều vị Tổ và bộ tượng Thập điện Diêm Vương, coi như là sự nối tiếp của Phật điện ở gian giữa của tòa giữa. Tượng cao 90cm lớn hơn người thực, lại được đặt trên tòa sen cao 40cm nữa. Cả ba pho đều chung một thế ngồi bán kiết như ở chùa Bút Tháp, các nếp áo chảy rất nuột, dáng người và khuôn mặt có phần thon thả hơn Tam Thế chùa Bút Tháp. Ngực đã trang sức bộ dây anh lạc diêm dúa còn thêm cả chữ Vạn ( ) vừa phải ngược chiều quay kim đồng hồ. Các quý tướng của Phật đều được làm nổi rõ với nét chạm trau chuốt. Trong tư thế tay, hai pho ngoài để giống nhau nhưng tráo tay: Tay trong để ngửa trên lòng đùi, tay ngoài gấp lại đưa bàn tay giơ lên để ngón út chạm đầu ngón cái, còn pho giữa kết ấn Tam muội, thường gắn với Phật Quá Khứ, như vậy Phật Hiện Tại và Phật Vị Lai được biểu hiện giống nhau. Tượng ngồi đài sen có các cánh hoa chạm cẩn thận đến mức tỉ mỉ những hình trang trí bên trong. Đặc biệt phía sau mỗi pho tượng được gắn với một vòng hào quang có hình gần như một hình bài vị tỉa tót chi li những đường nét mềm mại như mây bay, ở giữa phần trên ngang với đầu tượng là một hình tròn thếp vàng . Hẳn đây là bộ tượng do chúa Trịnh Giang cho làm ở đầu thế kỷ XVIII và Phan Huy ích đã ca ngợi là cực kỳ khéo léo. (ảnh 57)

h57-184.jpg (89145 bytes)

57- Bộ Tam Thế chùa Tây Phương

Tượng Tam Thế sang thời Nguyễn vẫn được một số chùa tạc, song với giá trị thẩm mỹ thì đỉnh cao của nó phải dừng ở thế kỷ XVII-XVIII. Đấy là những nhân vật biểu trưng cho cả thế giới Phật giáo, được Phật tử tôn kính nhất.

Nhiều bộ tượng Tam Thế ở giai đoạn muộn này, nhiều chuẩn mực chung vẫn được tuân theo chặt chẽ, song cũng có một số chi tiết không được quan tâm đầy đủ nữa. Chẳng hạn bộ tượng Tam Thế chùa Nghi Tàm (Kim Liên Tự – Hà Nội) cả ba pho tượng rất giống nhau trong tư thế ngồi bán kiết và kết ấn Tam muội, nhưng chữ Vạn trên ngực hai pho giữa và bên trái thì ngược chiều quay kim đồng hồ ( ), còn ở pho bên phải lại xuôi chiều quay kim đồng hồ ( ) mà ý nghĩa thì lại ngược nhau.

Leave a Reply

You must be logged in to post a comment.