<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tuong Go Di Da</title>
	<atom:link href="http://www.tuonggodida.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.tuonggodida.com</link>
	<description>Trang Web Cua Co So Tuong Go Di Da</description>
	<lastBuildDate>Sat, 12 Jan 2013 02:22:44 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.0.1</generator>
		<item>
		<title>Lược sử Ðức Phật Thích Ca từ thành đạo đến nhập niết bàn (HT.Thiện Hoa)</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/luoc-su-uc-phat-thich-ca-tu-thanh-dao-den-nhap-niet-ban-htthien-hoa/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/luoc-su-uc-phat-thich-ca-tu-thanh-dao-den-nhap-niet-ban-htthien-hoa/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 12 Jan 2013 02:22:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Điển Tích Phật Giáo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=772</guid>
		<description><![CDATA[Chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp quen sống trong bóng tối của si mê, ngày nay chắc không khỏi choá mắt, hoảng sợ khi tiếp xúc với ánh sáng bừng chói của trí tuệ. Nhưng Ngài xét biết rằng mặc dù sống trong tăm tối, nhưng mỗi chúng sanh đều có mầm Phật tánh, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp quen sống trong bóng tối của si mê, ngày  nay chắc không khỏi choá mắt, hoảng sợ khi tiếp xúc với ánh sáng bừng  chói của trí tuệ. Nhưng Ngài xét biết rằng mặc dù sống trong tăm tối,  nhưng mỗi chúng sanh đều có mầm Phật tánh, như hoa sen, mặc dù sống  trong bùn tanh hôi, nhưng vẫn tỏa nhụy vàng thơm ngát</p>
<div id="attachment_774" class="wp-caption aligncenter" style="width: 727px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2013/01/tuong-phat-thich-ca-bang-go-mit-truyen-phap5.jpg"><img class="size-full wp-image-774" title="tuong-phat-thich-ca-bang-go-mit-truyen-phap5" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2013/01/tuong-phat-thich-ca-bang-go-mit-truyen-phap5.jpg" alt="" width="717" height="960" /></a><p class="wp-caption-text">tuong-phat-thich-ca-truyen-phap-bang-go-mit</p></div>
<p></strong></p>
<p>A &#8211; Mở Ðề:</p>
<p>Trong  bài trước chúng ta đã thấy Ðức Phật Thích Ca vì một đại nguyện lớn lao,  vì một lòng từ bi vô bờ bến mà xuất gia tìm Ðạo. Ðại nguyện và lòng từ  bi lớn lao ấy là:&#8221;cầu thành Phật quả để trên đền đáp bốn ơn sâu, dưới  cứu vớt ba đường khổ&#8221;.</p>
<p>Cho  nên sau khi giác ngộ, Ngài không vội nhập Niết bàn, mà nghĩ ngay đến sứ  mạng của Ngài là: Thay thế chư phật đời trước, tiếp tục chuyển mê khai  ngộ cho tất cả mọi người.</p>
<p>Sứ  mạng ấy Ngài biết trước không phải dễ dàng, vì cái Ðạo của Ngài thì cao  thâm huyền diệu, mà chúng sanh căn cơ lại không đều, và từ muôn kiếp đã  lặn hụp trong si mê lầm lạc, khó có thể nhận hiểu được ngay ý nghĩa cao  thâm của Giáo lý Ngài. Chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp quen sống trong  bóng tối của si mê, ngày nay chắc không khỏi choá mắt, hoảng sợ khi tiếp  xúc với ánh sáng bừng chói của trí tuệ. Nhưng Ngài xét biết rằng mặc dù  sống trong tăm tối, nhưng mỗi chúng sanh đều có mầm Phật tánh, như hoa  sen, mặc dù sống trong bùn tanh hôi, nhưng vẫn tỏa nhụy vàng thơm ngát.  Ngài cương-quyết thực-hiện sứ mạng của mình.</p>
<p>B &#8211; Chánh Ðề</p>
<p>I &#8211; Sự Hóa Ðộ Rộng Lớn Và Cùng Khắp Của Ðức Phật<br />
Sứ  mạng hóa độ của Ðức Phật, như chúng ta đã biết, thật nặng nề và khó  khăn. Nhưng nhờ trí tuệ sáng suốt, lòng từ bi rộng sâu, nhờ tinh thần  bình đẳng triẹt để và nhờ ý chí dũng mãnh không thối chuyển, mà Ðức Phật  đã hoàn thành sứ mạng của mình một cách viên mãn. Trong khi hóa độ,  Ngài đã dựa theo ba nguyên tắc sau đây:</p>
<p>1. Hòa độ theo thứ lớp căn cơ.<br />
Khi  bắt đầu đi truyền Ðạo, ý nghĩ trước tiên của Ngài là đến vườn Lộc Uyển  tìm mấy người bạn đồng tu với Ngài trước kia để thuyết pháp. Mấy người  bạn ấy là các ông: KiềuTrầnNhư, AùcBệ, ThậpLực, MaHaNam và BạcÐề. Bài  thuyết pháp đầu tiên ấy là Tứ-diệu-đế. Năm vị nầy đều được khai ngộ, và  trở thành 5 đệ tử đầu tiên của Phật. Kế đó Phật thuyết luôn ba tháng cho  55 người Bà-la-môn, mà người đứng đầu là ông Da-Xá, 55 người nầy đèu  xin qui y theo Phật, và hợp với 5 người trong nhóm ông KiềuTrầnNhư thành  60 đệ tử, 60 đệ tử này sau khi giữ đúng giới luật, được Phật thọ-ký cho  đi truyền Ðạo khắp nơi.</p>
<p>Ðức  Phật rời vườn Lộc-uyển đi về phía Nam đén xứ Ưulầutầnloa và hàng phục  một vị tổ sư rất có uy tín của Ðạo Thờ Lửa là ông Ma-ha Ca-Diếp và hai  người em của Oâng. Oâng Ca-Diếp mang tất cả đồ đệ của mình là 1,250 vị,  xin qui-y theo Phật.</p>
<p>Nhớ  lại lời hẹn xưa với vua Tần-bà-xa-la, Ngài đến xứ Makiệtđà vào thành  Vươngxá để độ cho vua. Vua Tầnbàxala gặp lại Ngài, vui mừng khôn xiết,  truyền xây cất tịnh xá Trúc lâm, để thỉnh Phật và chư Tăng ở lại thuyết  Pháp độ sanh.</p>
<p>Trong  lúc Phật ở tịnh xá Trúc lâm, thì vua Tịnh-Phạn nghe tin Ngài đã thành  Phật, truyền sứ-giả đi thỉnh Ngài về thành Catỳlavệ. Nhưng 9 lần 9 sứ  giả đi đều biệt tăm, không trở lại. Thì ra những người này khi đến Trúc  lâm tịnh xá nghe Phật thuyết pháp, đã say mê quên sứmạng của mình và xin  thọ giới xuất gia. Lần thứ 10, Tịnh Phạn-vương sai một cận thần thân  tín là Ưu-Ðà-Di, mới thỉnh được Phật về. Trên đường từ thành Vương xá  trở về Catỳlavệ, Ðức Phật đã thuyết pháp độ cho không biết bao nhiêu  người. Về thành Catỳlavệ, Ngài ở lại 7 ngày. Mặc dù chỉ trong thời gian  ngắn ngủi ấy, Ðức Phật đã cảm hóa tất cả dòng họ Thích và tất cả những  người trong dòng họ này đều xin qui y và một số lớn xin xuất gia theo  Phật, như các ông: Nan-Ðà, A-Nan-Ðà, A-Nậu-Lâu-Ðà, La-Hầu-La&#8230;</p>
<p>Sau  khi trở về thăm gia đình và quê hương, Ðức Phật cùng các đệ tử lại tiếp  tục đi truyền Ðạo. Ngài đi đến thành Xá-Vệ là kinh đô nước Kiều tát la,  thuộc quyền thống trị của vua Ba-tư-Nặc. Ở thành này có một vị đại thần  tên là Tu-Ðạt-Ða, giàu lòng bố thí cho những kẻ bần cùng côi cút, nên  được gọi danh hiệu là Trưởng giả cấp cô độc. Oâng rất ngưỡng mộ Ðức Phật  nên đã trút hết tất cả tiền của vàng bạc trong kho ra mua khu vườn rộng  lớn của Thái tử KỳÐà để làm tịnh xá cho Phật và đệ tử của Ngài ở,  thuyết pháp độ sanh.</p>
<p>Ðược  ít lâu nghe tin vua Tịnh-Phạn đau nặng, sắp băng hà, Ðức Phật vội trở  về thăm cha lần cuối cùng. Thấy phụ thân buồn rầu trên giường bịnh Phật  thuyết về  &#8220;Lẽ vô-thường, khổ, không, vô ngã&#8221; cho vua nghe. Nghe xong  ,vua liền dứt phiền não, gương mặt vui tươi, cất tiếng niệm Phật, rồi  băng hà một cách êm ái.</p>
<p>Sau  khi Tịnh-Phạn-Vương mất, bà mệ nuôi của Phật là MaHaBaXàBaÐề và bà  DaDuÐàLa cùng nhiều người bên nữ giói họ Thích xin được phép xuất gia.  Từ đó trong Ðạo Phật lần đầu tiên có hàng TỳKheoNi.</p>
<p>Ðức  Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền Ðạo, đi đến đâu Ngài cũng  được sùng mộ, tin theo và nhiều người noi theo gương của ông CấpCôÐộc  lập TịnhXa, cất giảng đường để Ngài thuyết pháp độ sanh.</p>
<p>Như  thế chúng ta thấy Ðức Phật đã tuần tự hóa độ và kết nạp đệ tử, từ những  hạn người đủ căn trí dễ hiểu thấu giáo lý của Ngài rồi mới rộng ra  những người  khác; Lập TỳKeo trước rồi TỳKheoNi sau.</p>
<p>2- Hóa độ tùy phương tiện.<br />
Trong  suốt thời gian đi thuyết pháp độ sanh, lắm khi Ðức Phật cũng gặp nhiều  cảnh gay go trái ngược do lòng đố kĩ của ngoại đạo, tà giáo, hay lòng  ganh ghét của nội thân quyến thuộc gây ra. Nhưng lúc nào Ngài cũng tuỳ  phương tiện để cảm hóa ho, và đưa họ về đường ngay lẽ phải. Chẳng hạn,  khi thì Ngài bị cô gái con ngoại đạo độn bụng giả có chửa dến giữa Ðạo  tràngđể vu oan cho Ngài; khi thì Ngài bị anh chàng Vô não đuổi theo  quyết giết Ngài để lấy ngón tay góp thêm cho đủ số một ngàn ngón mà nó  đã giết người để lấy, vì theo thuyết tà đạo, nó tin rằng có làm được như  thế mới chứng quả; khi thì Phật bị Ðề Bà Ðạt Ða, người em họ hung ác,  âm mưu hãm hại Phật bằng cách thả voi say cho chạy đến chà đạp Phật, hay  lăn đá to từ trên núi xuống đè Phật.</p>
<p>Nhưng  tất cả những âm mưu ấy đều vô hiệu quả, vì oai đức uy danh và trí huệ  của Phật bao bọc Phật, không một hành động xấu xa nào có thể thắng Phật  được. Ngài có đủ phương tiện khôn ngoan khéo léo, xoay chiều đổi hương  dễ dàng, hoán cải được tất cả nghịch cảnh trở thành thuận lợi. Và cuối  cùng kẻ khinh ghét Ngài trở lại kính mến Ngài; người chống ngài trở lại  phục Ngài; kẻ ngoại đạo trở thành phật tử. Bằng chứng là: ÐếBàÐạtÐa cũng  được Phật thọ ký; anh chàng VôNão cũng được qui y; bầy voi say cũng  được sám hối; Vua AXàThế cũng hối cải và quay về đường ngay.</p>
<p>Nói  tóm lại, Ðức Phật có đủ muôn ngàn phương tiện thích ứng với mọi người,  mọi vật, mọi hoàn cảnh để hóa độ tất cả những ai mà Ngài gặp trên đường  truyền Ðạo của Ngài. Không phải chỉ ở ngoài đời, mà trong Giáo hội của  Ngài, Ngài cũng tuỳ theo căn cơ, tâm lý của mỗi đệ tử mà áp dụng phương  pháp thích hợp. Chẳng hạn như đối với ông NanÐà, mặc dù thân đã xuất  gia, mà tâm vẫn muốn ngao du, luyến ái bạn bè, Ngài dùng thần thông để  đua ông lên cõi trời xem những cảnh sống tốt đẹp, vui thú khác thường,  rồi đưa ông xuống địa ngục mục kích những hình phạt đau đớn, rùng rợn  hãi hùng để ông so sánh hai cảnh đời trái ngưọc nhau mà tự chọn lấy một  đường.</p>
<p>Còn  đối với ông A-Nan, người học rộng nghe nhiều, nhưng vì nghiệp duyên còn  nặng, nên mắc nạn &#8220;MaÐăngGià&#8221;, thì Phật lại đem giáo lý thâm sâu là  Kinh Lăng-Nghiêm ra giảng dạy để cho ông A-Nan thấy rõ được cái quí giá  của chân tâm mà lo tu luyện, chứ không giong ruổi theo giả cảnh nữa.</p>
<p>Xem  như thế thì Ðức Phật đã dùng phương tiện để tùy duyên hóa độ, như ông  lương y giỏi tùy bịnh cho thuốc, chứ không nhất thiết phải theo một  đường lối cố định nào cả. Ðối với kẻ thân, người thù, đối với kẻ thông  minh hay người ngu độn, đối với kẻ giàu, người nghèo, Ngài đều có đủ  pháp môn cho họ khai ngộ và quy y theo Ngài.</p>
<p>3 &#8211; Hóa độ theo tinh thần bình đẳng.<br />
Tinh  thần triệt để bình đẳng là một điểm son quí giá nhật trong giáo lý của  Ðức Phật, cũng như trong tâm hồn Ngài. Ngay từ khi còn ấu thơ, tinh thần  ấy đã được bộc lộ trong những cử chỉ cứu giúp nhữ kẻ bần cùng, những  con vật lâm nạn, như chúng ta đã thấy trong bài trước.</p>
<p>Khi  thành Ðạo, tinh thần bình đẳng ấy lại bộc lộ rõ ràng hơn nữa. Ngài đã  có những câu nói bất hủ, khiến cho ngày nay, người ta vẫn đem ra làm  khuôn vàng thưóc ngọc, như khi Ngài xin nước của một người thuộc giai  cấp hạ tiện nhất Ấn-độ, người nầy sợ làm lây ô-uế cho Ngài, thì Ngài  phán bảo:&#8221;không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ, trong nước mắt cùng  mặn. Mỗi người sanh ra đều có Phật tánh và có thể thành Phật&#8221;.</p>
<p>Trong  Giáo hội của Ngài, Ngài nhận cả những người thuộc giai cấp hạ tiện. Như  ông ƯuBaLy, một đệ tử của Ngài có tiếng tăm về giới luật, lại là một  người thuộc giới hạ tiện Chiênđàla, làm nghề gánh phẩn. Sự thâu nhập ấy  đã làm cho các vị vua chúa bất mãn. Chính vua BaTưNặc đã bạch Phật:&#8221;  Ðấng Chí Ton thâu nhận kẻ hèn hạ vào hàng Tăng Ðồ như vậy, không ngại  rằng đá sỏi lẫn lộn với châu ngọc, làm mất giá trị của chúng Tăng sao?&#8221;  Phật dạy rằng: &#8220;Người hèn hạ mà biết phát tâm BồÐề, xuất gia tu hành,  chứng được quả Thánh, thì quí báu vô cùng, chẳng khác gì hoa sen mọc ở  bùn lầy nhơ bẩn mà vẫn tinh khiết thơm tho&#8221;. &#8220;Một người sanh ra không  phải liền thành Bàlamôn (giai cấp trên hết) hay Chiênđàla (giai cấp thấp  nhất)m mà chính vì sở hành của người ấy, tạo thành Chiênđàla hay  Bàlamôn&#8221;.</p>
<p>Ngài  xâu giùm kim cho người mù, hoan hỷ nhận hòn đất sét mà đứa bbé đã nắn  để dâng Ngài, thọ lãnh bữa cơm cuối cùng do người thợ đốt than nghèo nàn  dâng cúng. Chính vì sự hóa độ bình đẳng như thế, mà kinh Ðại Niết-Bàn  đã táụn thán:</p>
<p>-&#8221;Ðức  Như Lai không chỉ thuyết pháp cho hạng người quyền quí như vua BạcÐềCa,  mà cũng thuyết pháp cho hạng người bẫn cùng như ông ƯuBaLy; không riêng  thọ lãnh sự cúng dường của những người giàu có như ông TuÐạtÐa, mà cũng  thọ lãnh sự cúng dường của các hạng nghèo khổ như ông ThuầnÐà; không  riêng cho phép xuất gia các hạn không có tánh tham như Ngài CaDiếp, mà  cũng cho phép xuất gia những người có nhiều tánh tham như ông NanÐà;  không những thuyết pháp cho hạng người an tịnh không dự việc đời, mà  cũng thuyết pháp cho vua TầnBàSaLa trong lúc đang bận rộn việc nước;  không những thuyết pháp cho hạng thanh niên trẻ tuổi, mà cũng thuyết  pháp cho ông già 80 tuổi; không những thuyết pháp cho bà hoàng hậu  MạtLĩ, mà cũng thuyết pháp cho dâm nữ LiênHoa&#8221;.</p>
<p>II- Năm Thời Kỳ Nói Kinh</p>
<p>Tóm  lại, trong một đời của Ðức Phật, tùy theo trình độ của mọi người mà  thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt, cộng là 49 năm. Những  Kinh Pháp của Ngài nói ra, về sau các đệ tử kết tập chia ra làm năm  thời:</p>
<p>1.Thời thứ nhất nói Kinh Hoa-Nghiêm</p>
<p>Khi  Phật mới thành Ðạo, ở tại cội BồÐề, nói KINH HOA NGHIÊM 21 ngày. Vạch  rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của Ðạo Phật, chủ dích có  hai điều:<br />
a) Dẫn dắt các bậc Bồtát lên địa vị Ðẳng giác và Diệu giác.<br />
b)  Nêu bày giáo pháp rốt ráo của NhưLai, chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ  mà thôi; Ngoài ra hàng nhị thừa ngồi nghe nhu đui, như điếc, huống chi  ngoại đạo,tà giáo làm sao hiểu nổi! Ðức Phật trình bày giáo pháp siêu  việt tuyệt vời ấy, là muốn cho đại chúng phải tu theo Ðại thừa Phật giáo  mới được hoàn toàn rốt ráo.</p>
<p>2.Thời thứ hai Phật nói Kinh A-Hàm</p>
<p>Biết  rằng: &#8220;Muốn đi xa phải do nơi gần, muốn lên cao phải từ nơi thấp&#8221;, Ðức  Thích Ca y theo chư Phật mà nói pháp Tam thừa. Vì vậy thời thứ hai, Ngài  nói Kinh A Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý cho  hàng Tiểu thừa dễ nhận, mà lo bề tự tu và tự độ.</p>
<p>3.Thời thứ ba Phật nói Kinh Phương Ðẳng.</p>
<p>Ðạo  Phật chẳng những dạy pháp giác ngộ phần mình mà Ngài còn chỉ bày phương  pháp giác tha nữa, tức là khuyến khích từ cái giác ngộ tiêu cực nhỏ hẹp  của Tiểu thứa (AlaHán), để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của  Ðại thừa Phậtgiáo. Aáy là thời nói Kinh phương Ðẳng trọn 8 năm, dẫn dắc  Tiểu thừa qua Ðại thừa.</p>
<p>4.Thời thứ tư Phật nói Kinh Bát Nhã.</p>
<p>Ðến  khi Ðức Phật xem căn cơ của chúng sanh có thể tiến lên một từng cao nữa  là hấp thụ được hoàn toàn giáo pháp Ðại thừa, nên Ngài chỉ bày Ðạo lý  chân không của Vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các  pháp. Aáy là thời kỳ nói Kinh Bát Nhã trọn 22 năm.</p>
<p>5.Thời thứ năm Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn.</p>
<p>Sự  hóa độ một đòi của Ðức Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ của chúng  sanh đã thuần thục, có thể gánh vát Ðại thừa Chánh pháp của NhưLai, nên  Ngài bèn nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân  lớn: &#8220;Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến&#8221;. Ngài phú chúc, thọ ký  cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. Aáy là thời nói Kinh Pháp  Hoa và Kinh Niết Bàn trọn 8 năm. Ðến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh  của đời Ngài đã viên mãn.</p>
<p>Tóm lại 5 thời thuyết pháp Cổ nhơn có làm bài kệ như sau:</p>
<p>Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhựt<br />
A-Hàm thập nhị Phương Ðẳng bát<br />
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm<br />
Pháp Hoa Niết Bàn cộng bát niên.<br />
DỊCH NGHĨA<br />
Trước nói Hoa Nghiêm hăm mốt ngày<br />
A-Hàm mười hai, Phương Ðẳng tám<br />
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã<br />
Pháp Hoa Niết Bàn cộng tám năm.</p>
<p>III- Sự Hóa Ðộ Viên Mãn</p>
<p>Từ  khi thành Ðạo dưới gốc cây BờÐề cho đến ngày nhập diệt, trải qua một  thời gian 49 năm, Ðức Phật đã đi khắp xứ Aán độ rộng lớn bao la, hết  nước này đến nước khác. Hễ chỗ nào có chân Ngài dẫm đến là Aùnh Ðạo Vàng  bừng tỏa huy hoàng.</p>
<p>Mỗi  ngày Ngài theo một thời dụng biểu, một chương trình nhất định, không  bao giờ xao lảng, giải đãi, từ khi trẻ cho đến già, từ mùa mưa cho đến  mùa nắng. Mỗi ngày khi trời chưa sáng, Ngài đã lìa khỏi giường đi tắm  rửa, thay đổi y phục rồi vào phòng quán cơ cho đến lúc mặt trời xuất  hiện. Sau đó Ngài thuyết pháp cho chúng Tăng đến lúc trưa mới nghỉ để  thụ trai. Buổi chiều, Ngài thuyết pháp cho Tín đồ các vùng l6an cận đến  nghe; rồi lại giảng giải những nghi vấn của các Tăng về những vấn đề mà  Ngài đã thuyết pháp buổi sáng.</p>
<p>Mỗi  năm, Ngài đi chu du để thuyết pháp độ sanh trong9 tháng nắng ráo; còn  ba tháng về mùa hạ có mưa lớn (theo thời tiết Aán độ), thì Ngài lại ở  luôn trong Tịnh xá để an cư kiết hạ.</p>
<p>Ròng  rã trong 49 năm như thế, hạt giống Từbi được Ngài tinh tấn gieo rắc  khắp các xứ ở Aénđộ. Từ Bắc chí Nam, từ Ðông sang Tây, từ rừng rú đến  đồng bằng, không nơi nào là Ngài không đặt chân đến, hay truyền đệ tử  đến thay Ngài để hóa độ chúng sanh. Và ở đâu Ngài và các đệ tử cũng  được, nhân dân, từ vua đến dân, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, từ  phái nam đến phái nữ, đổ xô ra đón tiếp Ngài, vui thú đươc tắm gội trong  ánh nắng trí huệ và nước Từ bi do Ngài tưới xuống. Ở đâu có Anh Ðạo  vàng đến, thì Tà giáo và ngoại giáo lui xa dần, tan biến như những làn  mây, như những bóng tối, tan biến trước ánh bình minh Ðang lên. Giọng  thuyết pháp của Ngài có oai lực như tiếng sư tử rống, làm cho cầm thú  phải khiếp phục, như tiếng Hải triều lên, lấn ác tất cả bao nhiêu tiếng  tỉ tê của côn trùng, chim chóc.</p>
<p>Ðạo  BồÐề từ đây đã ăn sâu gốc rễ trên bán đảo Aán độ bao la, và trở thành  tôn giáo chính của các nước lớn, nhỏ thời bấy giờ tại Aánđộ. Ðức Phật  sau khi đã tự giác, đã giác tha và đến đây giác hạnh của Ngài đã viên  mãn.</p>
<p>IV- Trước Khi Nhập Niết bàn</p>
<p>1 &#8211; Phật báo tin sắp lìa đời.</p>
<p>Khi  giác hạnh đã viên mãn thì Phật đã 80 tuổi. Ðến đây, sắc thân tứ đại của  Ngài cũng theo luật vô thường mà biến đổi, yếu gìa. Năm ấy Ngài vào hạ ở  rừng SaLa trong xứ CâuLy, cách thành Balanại chừng 120 dặm. Một hôm  Ngài gọi ông Anan, người đệ tử luôn luôn ở bên cạnh Ngài đến và phán  bảo:<br />
-&#8221;A  Nan! Ðạo ta nay đã viên mãn. Như lời nguyện xưa, nay ta đã có đủ bốn  hạng đệ tử: TỳKheo, TỳKheoNi, ƯuBàTắc, ƯuBàDi. Nhiều đệ tử có thể thay  ta chuyển xe pháp, và Ðạo ta cũng đã truyền bá khắp nơi. Bây giờ ta có  thể rời các ngươi mà ra đi. Thân hình ta, theo luật vô tường, bây giờ  như một cổ xe đã mòn rã. Ta đã mượn nó để chở pháp, nay xe đã vừa mòn mà  pháp cũng đã lan khắp nơi, vậy ta còn mến tiếc làm gì cái thân tiều tụy  này nữa? A-Nan! Trong ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết bàn&#8221;.</p>
<p>Tin  Ðức Phật sắp vào Niết bàn, lan ra như một tiếng sét. Các đệ tử của Ngài  đi truyền giáo ở các nơi xa, lục tục trở về để cùng đấng Giác Ngộ chia  ly lần cuối.</p>
<p>Trong  thời gian ba tháng cuối cùng của Ngài, Ðức Phật vẫn không nghỉ ngơi, mà  vẫn tiếp tục đi truyền Ðạo. Một hôm Ngài đi thuyết pháp ngang qua một  khu rừng, gặp một người làm nghề đốt than, ông Thuần Ðà, thỉnh Ngài về  nhà để thọ trai. Ngài im lặng nhận lời cùng các đệ tử theo ông về. Ðến  nhà ông Thuần Ðà dọn ra cúng dường Ngài một bát cháo nấm Chiên đàn,  thường gọi là nấm heo rừng, vì giống nấm này rất được giống heo rừng ưa  thích.</p>
<p>Thụ  trai xong, Phật cùng các đệ tử từ giã ông Thuần Ðà ra đi. Ðược một  quãng đường, Ngái giao bình bát cho ông A Nan và truyền treo võng lên,  trong rừng cây Ta-la (Tàu dịch là cây song thọ, cây có hai nhánh lớn  chia ra như hai cái nạn), để Ngài nằm nghỉ. Ngài nằm xuống võng đầu trở  về hướng Bắc, mình nghiêng về phiá tay phải, mặt xây về hướng mặt trời  lặn, hai chân tréo vào nhau.</p>
<p>Nghe  tin Ngài sắp nhập Niết bàn, dân chúng quanh vùng đến kính viếng rất  đông, trong sốấy có một ông già ngoài 80 tuổi, tên TuBạcÐàLa đến xin  xuất gia thọ giới Sadi với Ngài, Ngài hoan hỷ nhận lời. Ðó là người đệ  tử chót trong đời Ngài.</p>
<p>2- Phật nói Kinh Di Giáo và những lời phú chúc</p>
<p>Lúc  bấy giờ các đệ tử của Ngài đều có mặt đông đủ, chỉ trừ ông Ca-Diếp vì  đi thuyết pháp xa, chưa về kịp. Ngài hội tất cả đệ tử và tín đồ đến  quanh Ngài và dặn dò một lần cuối. Ngài phú chúc như sau:</p>
<p>a) Y,bát của Ngài sẽ truyền cho ông Ma-Ha Ca-Diếp.</p>
<p>b) Các đệ tử phải lấy giới luật làm Thầy.</p>
<p>c) Ở đầu các Kinh phải nên nêu 4 chữ: &#8220;Như thị ngã văn&#8221;.</p>
<p>d) Xá lợi của Ngài sẽ chia làm ba phần:</p>
<p>- Một phần cho Thiên cung,</p>
<p>- Một phần cho Long cung,</p>
<p>- Một phần chia cho 8 vị Quốc vương ở AánÐộ</p>
<p>Sau đây là lời vàng ngọc mà Ngài đã để lại trong giờ phút cuối cùng.</p>
<p>-  &#8220;Này! Các người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy  Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát! Ðừng tìm sự  giải thoát ở  một kẻ nào khát, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào  khác, ngoài các người!..&#8221;.</p>
<p>-  &#8220;Này! Các người đừng vì dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời  không có gì quí giá. Chỉ có chân lý cuả Ðạo ta là bất di, bất dịch. Hãy  tinh tiến lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!&#8221;.</p>
<p>Sau  khi đã dặn dò cặn kẽ xong, Ngài nhập định rồi vào Niết bàn. Lúc bấy  giờ  nhằm ngày rằm tháng hai ÂL (theo giáo sử Trung hoa).</p>
<p>Rừng  cây Ta-la tuôn hoa xuống phủ lên thân Ngài, trời đất u ám, cây cỏ héo  úa, chim chóc im bặt tiếng hót. Vạn vật như chìm lặng trong giây phút  nặng nề của sự chia ly.</p>
<p>Các  đệ tử tẩn liệm xác Ngài vao trong kim quan và 7 ngày sau, đua kim quan  Ngài vào thành Câu thi để tại chùa Thiện Quang và làm lễ trà tỳ (lễ hỏa  thiêu).</p>
<p>Tám  vị Quốc vương lớn ở Aánđộ kéo binh hùng tương dũng đến toan tranh dành  XáLợi. Nhưng ông Hương-Tích y theo di chúc của Phật, đứng ra điều đình,  và nhờ thế việc phân chia XáLợi đều được ổn thỏa.</p>
<p>C &#8211; Kết Luận</p>
<p>Ðức  Phật đã nhập Niết Bàn, nhưng gương sáng của đời Ngài vẫn còn chiếu sáng  rực rỡ trước mắt chúng ta. Suốt một đòi, trong 80 năm trời, không một  lúc nào Ngài xao lảng mục đích tối thượng là hóa độ chúng sanh đang trầm  luân trong bbể khổ. Khi còn tại gia, Ngài là người ở trong một địa vị  có diễm phúc nhất, cao nhất của người đời.</p>
<p>Thế  mà Ngài vẫn không màng tưởng đến; khi vào trong Ðạo, Ngài là người ở  trong địa vị cao chót vót của Ðạo, thế mà Ngài vẫn không chịu ở yên  trong địa vị ấy, lại vất vả dủi rong trên mọi nẻo đường buị bặm, gai góc  để đưa chúng sanh lên con đường hạnh phúc an vui và giải thoát hoàn  toàn. Lòng thương của Ðức Phật thật vô biên.</p>
<p>1- Người đời nên noi gương sáng của Phật.<br />
Sự  hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn, trí tuệ sáng suốt, ý chí dũng mãnh  của Ngài  không những là bao nhiêu gương sáng cho riêng hàng Phật tư,  mà còn cho tất cả mọi  người. Nếu chúng ta quang niệm Ngài là một vĩ  nhân của nhân loại từ xưa đến nay.  Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một  bậc siêu nhân, thì đó là một bậc siêu nhân cao hơn những bậc siêu nhân  khác. Nếu ta quan niệm đời Ngài là một sự thị hiện của Phật, thì đó là  sự thị hiện đẹp đẽ nhất và đầy đủ ý nghĩa hơn hết trong các sự thị hiện.  Cho nên không những đối với Tín đờ Phật giáo, mà đối với toàn thể nhân  loại, Ðức Phật đáng được tôn sùng và chiêm ngưỡng.</p>
<p>2-  Tín đồ nên ghi nhớ những lời di chúc của Phật &#8211; Chúng ta , những Phật  tử, ai cũng biết đời Ðức Phật là đẹp đẽ, cao cả; bài học của đời Ngài là  quí báu, sâu xa. Nhưng nếu chúng ta không cố gắng học tập, thì bài học  dù hay ho quí báu bao nhiêu cũng vô ích. Ðức Phật trước khi nhập diệt,  đã dặn chúng ta một câu cuối cùng:</p>
<p>-  &#8220;Mọi vật ở đời không có gì quí giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có Ðạo  ta là quí báu. Chỉ có chân lý của Ðạo ta là bất di bất dịch.<br />
HÃY TINH TẤN LÊN ÐỂ GIẢI THOÁT!&#8221;</p>
<p>Vậy thì diều kiện trọng yếu nhất để giải thóat là sự tinh tấn. Chúng ta đừng bao giờ quên điều kiện ấy trong khi tu hành.</p>
<p><strong>HT.Thiện Hoa</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/luoc-su-uc-phat-thich-ca-tu-thanh-dao-den-nhap-niet-ban-htthien-hoa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>THIỀN ĐẠI LỘC- SIVALI</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/thien-dai-loc-sivali/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/thien-dai-loc-sivali/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 07 Dec 2012 04:28:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Phật Giáo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=726</guid>
		<description><![CDATA[1.      XUẤT XỨ: Trong Trưởng lão Tăng kệ, Thánh Tăng Đại Lộc- Sivali là đệ tử của đức Phật Thích Ca, được ngài phong tặng là đệ tử đệ nhất tài lộc. Một số quốc gia phật giáo Nguyên Thủy, gia đình Phật tử ngoài việc thờ tượng phật Thích Ca còn thờ tượng Ngài [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>1.      XUẤT XỨ: Trong Trưởng lão Tăng kệ, Thánh Tăng Đại Lộc- Sivali là đệ tử của đức Phật Thích Ca, được ngài phong tặng là đệ tử đệ nhất tài lộc. Một số quốc gia phật giáo Nguyên Thủy, gia đình Phật tử ngoài việc thờ tượng phật Thích Ca còn thờ tượng Ngài Sivali để lễ bái mong cầu Phước lộc. Đặc biệt, có 7 bài kệ nhập thiền Sivali trong truyền thống phật giáo nguyên thủy. Năm 2012, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu quý vị phật tử hữu duyên để thực tập nhằm thanh lọc tâm, may mắn trong cuộc sống.</p>
<div id="attachment_727" class="wp-caption aligncenter" style="width: 490px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/12/tuong-thanh-tang-savaly.jpg"><img class="size-full wp-image-727" title="tuong-thanh-tang-savaly" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/12/tuong-thanh-tang-savaly.jpg" alt="" width="480" height="640" /></a><p class="wp-caption-text">Thánh Tăng Đại Lộc- Sivali</p></div>
<p>2.      ĐIỀU KIỆN NHẬP THIỀN SIVALI:  Để có hiệu quả cho việc nhập thiền Sivali, trước khi vào khóa thiền 7 ngày, phải chọn ngày rằm mà ngày rằm đó phải là ngày thứ hai. Năm nay 2012, ngày 4 tháng 6, chính là ngày rằm, có thứ hai, đó là thời gian thích hợp cho việc nhập thiền Sivali. Đúng 8h sáng, ngày 4 tháng 6 năm 2012 (nếu hành giả bận thì chọn 16h cũng được), tìm nơi thanh tịnh, ngồi xếp bằng, chấp tay niệm: Kính lễ đức Phật, Kính lễ Giáo pháp, kính lễ Tăng già, Kính lễ Thánh tăng Đại Lộc- Sivali, đệ tử tên &#8212;&#8212;&#8211; Pháp danh &#8212;&#8212; nhất tâm nhập thiền và tu theo hạnh nguyện của ngài, ngưỡng mong Thánh tăng Đại Lộc- Sivali, chứng minh lòng thành của đệ tử và ban phúc lành cho con. Hành giả nhắm mắt đọc thầm câu kệ ngày thứ hai khoảng 10 phút (đọc càng nhiều càng tốt): Sivalí chá  máha namăng sáp bá la phăng phá vantúmê , trưa và chiều cũng đọc như thế. Ngày thứ ba cũng thực hiện giống như ngày thứ hai, nhưng chú ý đọc câu kệ ngày thứ ba. Tuần tự như thế cho đến ngày chủ nhật. Thế là việc nhập khóa thiền 7 ngày Sivali đã kết thức.</p>
<p>3.      HÀNH TRÌ:  Khi trãi qua khóa thiền 7 ngày, hành giả mỗi ngày phải hành trì đọc tụng 2 thời khóa: sáng, trưa, chiều, câu kệ của từng thứ. Ví dụ thứ năm phải đọc câu kệ thứ năm v.v…Trước khi đọc, phải niệm: Ná mô tás sá phá gá vá tô áráhátô sâmmasâmbút thát sá &#8211; 3 lần (Kính lễ đức Thế Tôn, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác); Kính lễ Thánh Tăng Đại Lộc- Sivali, đệ tử tên&#8212;&#8211; Pháp danh&#8212;&#8211; nhất tâm thọ trì thiền Đại Lộc- Sivali, Ngưỡng mong ân đức của ngài gia hộ của chúng con. Sau đó bắt đầu đọc câu kệ của ngày hôm đó. Thời gian khoảng 10 phút. Địa điểm nơi đâu cũng được, phải giữ tâm thanh tịnh , mát mẽ.</p>
<p>4.      ĐỀ MỤC THIỀN ĐẠI LỘC- SIVALI:</p>
<p>Thứ 2: Sivalí chá  máhanamăng  sápbálaphăng  phávantúmê</p>
<p>Thứ ba: Dăn tôrítô tômàrôva tômárâyvà sápbálapha bhávantúmê</p>
<p>Thứ tư: Sìvalí chá máhathêrô phúchátô bhávantúmê</p>
<p>Thứ năm: Sìvalí chá máhathêrô Tôchátô bhávantúmê</p>
<p>Thứ sáu: Tútê bhávêracha nírăngtárăng sápbálaphăng  bhávantúmê</p>
<p>Thứ Bảy: Sìvalí chá máhathêrô dápíphúchátô bhávantúmê</p>
<p>Chủ nhật: Sìvalí chá máhathêrô râmmátôchátô bhávantúmê</p>
<p>5.      LỢI ÍCH : Có những lợi ích của những người tập thiền Đại Lộc- Sivali như sau:</p>
<p>- Có sức khỏe tốt</p>
<p>- Tật bịnh tiêu trừ</p>
<p>- Tai qua nạn khỏi</p>
<p>- Hanh thông mọi sự</p>
<p>- May mắn Tài Lộc</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/thien-dai-loc-sivali/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>LINH DIỆU CHÚ ĐẠI BI</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/linh-dieu-chu-dai-b/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/linh-dieu-chu-dai-b/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 23 Oct 2012 07:48:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Điển Tích Phật Giáo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=717</guid>
		<description><![CDATA[Thần Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội trước mặt đông đủ các vị Bồ Tát, Thinh văn, Thánh chúng, Trời, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_709" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/thu-vien-hinh-anh/tuong-phat-ba-quan-am-thien-thu-thien-nhan-cao-2m/"><img class="size-full wp-image-709" title="Tượng Phật Bà Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn cao 2m" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/phat-ban-quan-am-thien-thu-thien-nhan2-full.jpg" alt="" width="600" height="800" /></a><p class="wp-caption-text">Tượng Phật Bà Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn cao 2m</p></div>
<p>Thần Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên  Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni,  do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội trước mặt đông đủ  các vị Bồ Tát, Thinh văn, Thánh chúng, Trời, Thần, Thiên, Long, các Đại  thánh tăng như Ma-Ha Ca-Diếp, A-Nan&#8230; cùng câu hội, tại núi Bồ Đà Lạc  Ca (Potalaka), một hải đảo ở về phía Nam xứ Ấn Độ, được coi như là nơi  mà Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường trụ tích. Ta có thể tin chắc điều đó  bởi vì Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của  Ngài A Nan &#8220;Như thế tôi nghe&#8221; cũng như xuyên qua nội dung hỏi đáp giữa  ngài A Nan và Đức Thế Tôn đã được ghi lại ở trong kinh.<br />
Trong pháp hội này, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sanh,  muốn cho &#8220;chúng sanh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống  lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa  chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất  cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả  những chỗ mong cầu&#8221; mà nói ra Thần Chú này.<br />
Ngài cho biết lý do ra đời của Thần Chú như sau: Vào vô lượng ức kiếp về  trước, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến  chúng sanh nên đã nói ra thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán  Thế Âm nên thọ trì tâm chú này để mang đến lợi ích an vui lớn cho chúng  sanh trong đời vị lai. Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi sơ địa  khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Vui mừng  trước oai lực của thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện: &#8220;Nếu trong đời vị  lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú  này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn mắt ngàn tay&#8221;. Lập  tức, Ngài thành tựu ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm  ngàn tay ngàn mắt trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của  một vị Bồ Tát mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng  sanh. Ngàn tay, ngàn mắt nói lên cái khả năng biến hóa tự tại, cái dụng  tướng vô biên của thần lực Từ bi và Trí huệ tỏa khắp của Bồ Tát Quán Thế  Âm. Ngàn mắt để có thể chiếu soi vào tất cả mọi cảnh giới khổ đau của  nhân loại và ngàn tay để cứu vớt, nâng đỡ, như Đức Phật giải thích với  Ngài A Nan ở trong kinh, &#8220;tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu  của chúng sanh&#8221;.<br />
Kinh và Thần chú Đại Bi sau đó đã được ngài Dà-Phạm-Đạt-Ma  (Bhagavaddharma: có nghĩa là Tôn Pháp) một Thiền sư Ấn Độ, du hóa qua  Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường dịch và chuyển âm từ  tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển  ngữ qua tiếng Việt. Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua  không gian và thời gian, thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng  trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo  truyền thống Phật giáo Đại thừa như : Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên,  Việt Nam,..</p>
<p>Sự linh nghiệm, hiển linh của chú Đại Bi từ lâu đã được dân gian Việt  Nam nói riêng, dân chúng khắp nơi trên tòan cõi phương Đông nói chung  hiểu là “thần chú của Phật Pháp”. Sự linh ứng của chú Đại Bi thật diệu  kỳ: cứu khổ cứu nạn con người không bị ma quỷ, kẻ ác hãm hại; bảo vệ con  người trước những khó khăn mà con người phải đương đầu gánh vác; Trị  cho con người những thói tật cả về tâm bệnh lẫn thân xác; Có sức chuyển  hóa vũ trụ biến tạo nên cát tường từ nghiệp chướng; Hóa giải chứơng  duyên, ngang trái; Hóa thân Bồ Tát, giúp con người có sức mạnh vô biên  tự mình tháot khỏi ách ngục hình của tha nhân;…Đã có hàng ngàn câu  chuyện truyền tụng về sự huyền diệu của chú Đại Bi có thật trong dân  gian và do đó, con người đến với chú Đại Bi như tìm đến một cứu cánh lúc  tai nàn.</p>
<p>Nói chung, công năng của chú Đại Bi là làm cho chúng sinh tiêu trừ được  khổ nạn, đem đến cho con người sự vui tươi và có khả năng chữa lành tâm  bệnh lẫn thân xác, năng lực của chú có thể hóa giải cả nghiệp chướng  trái duyên, hóa giải tội báo. Thần lực của chú Đại Bi thật vô song.<br />
Những lúc ta lâm cảnh hoạn nạn, đau thương, cùng khổ, tuyệt vọng, bi  đát nhất; những lúc mà ta thấy mình rơi vào con đường cùng, bế tắc,  không còn lối thoát; hãy vững niềm tin vào Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nhất  tâm trì tụng Thần chú Đại Bi, chắc chắn Ngài sẽ giúp ta những phương  tiện thiện xảo, đưa ta vượt qua cảnh khổ đến nơi an lạc, hạnh phúc. Tuy  nhiên, để Thần chú phát huy được oai lực của nó, khi trì tụng ta phải tự  mình quán chiếu tại sao ta lại rơi vào cảnh khổ mà người khác lại  không, và tại sao Thần chú lại có công năng cứu khổ? Giáo lý của nhà  Phật cho chúng ta biết rằng tất cả mọi việc trên cỏi đời này không có gì  xảy ra một cách ngẫu nhiên. Tất cả những đau thương bất hạnh mà ta phải  gánh chịu trong kiếp sống hiện tại: gông cùm tù tội, bệnh hoạn, nghèo  hèn,&#8230; là kết quả của những ác nghiệp mà ta đã gây nên từ bao kiếp  trước hoặc trong kiếp này, nay đến lúc ta phải trả. Sở dĩ Thần chú Đại  Bi có khả năng đưa ta vượt qua khỏi cơn khổ nạn vì công năng siêu tuyệt  của nó là Phá Ác Nghiệp Chướng<br />
Hãy đến với Mẹ Quan Âm thông qua chú Đại Bi. Hãy niệm tụng với lòng  THÀNH KÍNH TIN TƯỞNG TUYỆT ĐỐI VÀ TẬP TRUNG TƯ TƯỞNG TÒAN VẸN. Hãy đứng  thẳng hoặc ngồi ngay ngắn trước khi niệm Chú Đại Bi, đó là thân nghiệp  được thanh tịnh. Miệng tụng kinh không nói lời gian trá. Tâm thanh tịnh  không để ý tán lọan. Ngoại cảnh lắng trong là khế ngộ nguồn tâm, diệu  nhập pháp lý. Chân ngôn được phát ra như ngọc tìm dưới đáy nước trong.  Vẻ trong sáng của ngọc được hiển bày vào tâm nguyện thành tựu cũng như  nhập vào biển diệu nghĩa, thật là huyền nhiệm.<br />
Xin xem hai liên kết dưới đây để thấy sự nhiệm mầu của Chú Đại Bi</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/linh-dieu-chu-dai-b/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>LỤC TỔ HUỆ NĂNG LÀ NGƯỜI VIỆT NAM</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/luc-to-hue-nang-la-nguoi-viet-nam/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/luc-to-hue-nang-la-nguoi-viet-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 13 Sep 2012 15:11:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=697</guid>
		<description><![CDATA[1. Sự thực lịch sử về việc hình thành Thiền tông được khai quật từ động Đôn Hoàng ở vùng sa mạc Tân Cương tại Trung Á Nguyên bản Pháp Bảo Đàn kinh mà tôi dịch đây là bản mới tìm được từ động Đôn Hoàng, vùng sa mạc Tân Cương, miền Trung Á. Bản [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><strong>1. Sự thực lịch sử về việc hình thành Thiền tông được khai quật từ động Đôn Hoàng ở vùng sa mạc Tân Cương tại Trung Á</strong></p>
<div id="attachment_675" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to2.jpg"><img class="size-full wp-image-675" title="dat-ma-su-to2" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to2.jpg" alt="" width="600" height="971" /></a><p class="wp-caption-text">Tuong Dat Ma Su To</p></div>
<p>Nguyên bản Pháp Bảo Đàn kinh mà tôi dịch đây là bản mới tìm được từ động Đôn Hoàng, vùng sa mạc Tân Cương, miền Trung Á. Bản này đã được viết ra vào khoảng năm 830 và trễ nhất là năm 860 (theo giảo nghiệm lối viết chữ thảo ở thời đó, do một chuyên viên danh tiếng, giáo sư Akira Fujieda của Đại học Tokyo).</p>
<p>Đây là bản Pháp Bảo Đàn xưa nhất của thế giới hiện nay. Trước đây, ở Việt Nam, tôi được biết ít nhất có ba bản dịch Việt của ba dịch giả (Hòa thượng Thích Minh Trực, ông Đoàn Trung Còn, và ông Tô Quế), nhưng cả ba bản dịch này được dựa theo bản chữ Hán Pháp Bảo Đàn kinh được viết vào thế kỷ thứ XIII (năm 1291), gọi bản Tông Bảo; bản này không khác lắm với bản Đức Dị được in vào năm 1290 tại Nam Hải (bản Đức Dị đã được du nhập vào Triều Tiên vào năm 1316 và tất cả bản Pháp Bảo Đàn kinh bằng tiếng Triều Tiên đều xuất phát từ bản Đức Dị). Bản Pháp Bảo Đàn kinh được thông dụng nhất hiện nay ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam chính là bản Tông Bảo được viết vào năm 1291 và được in trong Đại Tạng kinh ở đời Minh.</p>
<p>Ngoài những bản vừa kể, ít nhất chúng ta được biết có gần mười bản Pháp Bảo Đàn kinh khác nhau, ngoài bản xưa nhất tìm lại được ở động Đôn Hoàng, viết vào khoảng những năm 830-860 (chính là bản tôi dịch), những bản khác là bản Huệ Hân (năm 967), bản Thiều Hồi (năm 1013), bản Tồn Trung (năm 1116), bản Bắc Tống (năm 1153). Ngoài ra có hai bản đáng lưu ý và được coi đầy đủ nhất là hai bản ở Nhật Bản, bản Đại Thừa Tự (Daijòji) và bản Hưng Thánh Tự (Kòshòji); bản Đại Thừa Tự thì dựa vào bản Tồn Trung, còn bản Hưng Thánh Tự thì dựa vào bản Bắc Tống và bản Thiều Hồi.</p>
<p>Tất cả những bản Pháp Bảo Đàn kinh khác nhau vừa kể trên đều xuất phát từ bản duy nhất còn tìm lại được: chính là bản Đôn Hoàng (830-860) mà tôi dịch ở đây. Bản Đôn Hoàng là bản ngắn gọn nhất và chỉ gồm có mười hai ngàn chữ, còn những bản khác (bản đời Nguyên và Minh) gồm khoảng hai mươi mốt ngàn chữ. Bản chữ Hán tôi dịch ở đây được dựa theo bản chữ Hán đã được san định kỹ lưỡng do công phu uyên bác của giáo sư Philip B.Yampolsky của Đại học Columbia (The Platform Sutra of the Six Patriarch, the Text of the Tun-Huang Manuscript with Translation, Introduction, and Notes by Philip B.Yampolsky, Columbia University Press, New York, 1967).<br />
Trong phần mở đầu của quyển sách, giáo sư uyên bác Yampolsky đã cống hiến cho độc giả những dữ kiện lịch sử rõ rệt về sự thành hình của Thiền tông, căn cứ theo những tài liệu được khai quật từ động Đôn Hoàng; giáo sư đã chịu khó tham khảo hàng ngàn thiên khảo cứu Trung Hoa và Nhật Bản, cho độc giả nhìn thấy lại sự diễn biến của Thiền tông tại Trung Hoa từ những thế kỷ thứ VI, VII, VIII và IX, giáo sư đã tham khảo tất cả những tài liệu dữ kiện liên hệ đến Thiền tông ở những thế kỷ ấy, mà ngay rất nhiều học giả Trung Hoa và Nhật Bản cũng ít biết đến.</p>
<p>Bản dịch này được dựa theo bản chữ Hán do giáo sư Yampolsky san nhuận thấu đáo, nhưng tôi không hẳn hoàn toàn đồng ý với giáo sư ở nhiều điểm quan trọng, và khi dịch thì tôi dựa hẳn theo nguyên tắc chữ Hán và không đồng ý với giáo sư trong vài ba chi tiết ở nguyên bản. Giáo sư đã tự ý sửa đổi nhiều và thường lấy tiêu chuẩn nơi bản Hưng Thánh Tự.</p>
<p>Tôi thì chỉ chú trọng giữ lại sắc thái độc đáo của nguyên bản động Đôn Hoàng, chỉ trừ ra có những điểm chép sai quá lộ liễu thì tự ý sửa lại cho đúng văn pháp. Khi dịch, tôi cũng dịch trung thành theo những thành ngữ thông tục ở đời Đường, chẳng hạn thành ngữ &#8220;đệ nhất vật&#8221; (phân đoạn 13 của bản kinh) là một thành ngữ thông tục ở đời Đường có nghĩa là &#8220;không bao giờ trông bất cứ trường hợp nào&#8221; chứ không có nghĩa ngày nay là &#8220;vật thứ nhất&#8221;, chẳng hạn thành ngữ &#8220;ưng thị&#8221; (phân đoạn 35 bản kinh) cũng là chữ thông tục đời Đường có nghĩa là &#8220;tất cả&#8221;. Còn chữ &#8220;đường&#8221; (phân đoạn 35), tôi không đồng ý với Yampolsky mà dịch là &#8220;Trung Quốc&#8221; (hiểu theo nghĩa đời Đường). Tôi hiểu &#8220;đường&#8221; ở đây có nghĩa là &#8220;hành lang&#8221;, &#8220;con đường đi từ thềm ra cửa&#8221;; ý kiến này cũng đồng ý với giáo sư Nhật nổi tiếng về Thiền học Ui Hakuju, tác giả bộ Zenshu shi kenkyu, cuốn II, trang 148 (Tokyo, 1939-43).</p>
<p>Tôi tạm đưa ra vài thí dụ vừa rồi có tính cách kỹ thuật về phương diện khảo cứu ngôn ngữ học, nhưng có một điểm cần phải nhấn mạnh nơi đây, trong mọi trường hợp thảo luận và quyết định về những điểm dị đồng trong những bản khác nhau trong kinh điển Phật giáo, tiêu chuẩn quyết định vẫn là nội dung giáo lý căn bản; nói một cách khác, không thể chỉ thuần túy đứng về mặt khảo sát ngôn ngữ học mà có thể quyết định việc san nhuận kinh điển mà đồng thời phải lấy ánh sáng căn bản của giáo lý được thuyết minh trong chính kinh điển ấy để soi chiếu và giải minh những vấn đề dị biệt ở bình diện hình thức văn từ có tính cách lịch sử cục bộ giới hạn.<br />
Có nắm được giáo lý căn bản của ngài Huệ Năng thì tất cả những vấn đề nan giải về sử học và ngôn ngữ học sẽ được giải quyết một cách nghiêm chỉnh. Nói một cách khác hơn nữa, phải nhìn con người và hành trạng của ngài Huệ Năng, phải nhìn bản Pháp Bảo Đàn kinh với cái nhìn của một thiền sư, một người đã được nuôi dưỡng trong truyền thống của Thiền tông, thì mới thấy được những gì mà những người khác, dù là học giả uyên bác nhất, cũng không có đủ điều kiện tâm linh để nhìn thấy được.</p>
<p>Đó là lý do tại sao tôi cảm thấy cần thiết phải dịch lại nguyên bản xưa nhất của Pháp Bảo Đàn kinh và nhất là giới thiệu cho dân tộc Việt Nam một nền đạo lý chính thống đã nuôi dưỡng dân tộc ta suốt từ mười mấy thế kỷ nay. Không có ngài Huệ Năng thì chẳng bao giờ có đời Lý và đời Trần, hai triều đại quyết định tất cả tinh túy hồn tính của Việt Nam.</p>
<p>Chẳng những ở Việt Nam mà thôi, nếu không có ngài Huệ Năng thì chẳng bao giờ có cái đạo Thiền, gọi là Thiền tông Trung Hoa và Triều Tiên, Zen của Nhật Bản và tất cả những gì người ta nói đến Thiền hiện nay ở Tây phương; Thiền đã ảnh hưởng thế nào đến học thuật văn hóa Tây phương ở thế kỷ XX thì mọi người đều biết; Thiền đã tác động đến cả một nền văn chương Hoa Kỳ ở hạ bán thế kỷ XX này (không kể văn hào Henry Miller đã đi trước trong việc lãnh hội Thiền từ những năm 1932-34, mà chỉ cần kể những tên tuổi nổi tiếng khắp thế giới của thế hệ văn, thi sĩ Hoa Kỳ như J.D.Salinger, William Burroughs, Jack Kerouac Allen Ginsberg và nhất là đại thi sĩ Gary Snyder, người mở đầu khai thị Thiền tông cho cả một thế hệ và nhiều thế hệ văn, thi sĩ Hoa Kỳ, vừa mới đây Gary Snyder có đến thăm Phật tử và gặp tôi tại chùa Việt Nam Los Angeles, nhân đến nói chuyện với giới trí thức Mỹ tại Đại học UCLA).</p>
<p>Thiền tông đã ảnh hưởng toàn bộ đến văn hóa, học thuật Tây phương ở thế kỷ XX, và người đã thực sự sáng tạo ra Thiền tông lại chính là Huệ Năng chứ không phải Bồ Đề Đạt Ma; ngài Bồ Đề Đạt Ma chỉ là được truyền thống Thiền chọn lựa đứng tên danh dự mà thôi để linh động hóa tinh thần tạ ơn đối với Aán Độ, quê hương tâm linh của Phật giáo nhân loại. Một người độc thân duy nhất đã thay đổi toàn triệt truyền thống Phật giáo Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản, và ảnh hưởng toàn diện đến văn hóa học thuật Á Đông và hiện nay của cả thế giới, người ấy là Huệ Năng, và Huệ Năng là người Việt Nam mà chính toàn dân Việt Nam lại không hề biết đến, và ngay cả truyền thống Phật giáo Việt Nam lại bỏ quên ngài và coi ngài như bao nhiêu vị sư tổ Trung Hoa khác.</p>
<p>Những nhà học giả Trung Hoa rất hãnh diện về ngài Huệ Năng và cho rằng ít nhất ngài ngang hàng với Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử và Mạnh Tử, chẳng hạn giáo sư John C.H.Wu, Viện trưởng Viện Đại học Văn hóa Trung Hoa ở Đài Loan, hãnh diện quả quyết như vầy: &#8220;Huệ Năng nhất định là một trong những thiên tài cao lớn nhất, vĩ đại nhất mà đất Trung Hoa đã sinh sản ra. Huệ Năng đứng chung ngang hàng với Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử và Trang Tử&#8221;. (Hui Neng is assuredly one of the superlative geniuses that China has ever produce. He belongs to the company of Lao Tseu, Confucius, Mencius and Chuang Tzu) (xin đọc John W.C.H.Wu, The Golden Age of Zen, trang 56. NXB United Publishing Center, Đài Loan, 1975).</p>
<p>Lần lượt sau đây, chúng ta sẽ thấy rằng Huệ Năng là người Việt Nam và điều này đã được chứng minh dứt khoát rõ ràng trong tất cả những bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh, dù cho những đời sau cố tình thêm bớt che giấu sự thật thì tất cả những bản kinh khác đều còn giữ lại những câu quyết định nhất để nói lên sự thực lịch sử quyết định trầm trọng rằng ngài Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam.</p>
<p>Dù tất cả di bản, bia ký, tài liệu, văn thư, sách vở của Trung Hoa còn để lại đều để tạo ra cảm tưởng sai lầm rằng Huệ Năng là người Trung Hoa, nhưng chính đồng thời tất cả những tài liệu lịch sử còn giữ lại đó đã giúp đỡ đưa ta đi đến những kết luận nghịch hướng và không thể chối cãi được rằng ngài Huệ Năng là một người Việt Nam. Đây là một khám phá lớn nhất cho cả dân tộc, và chúng ta có đặc ân khai thác và bảo tồn như viên ngọc quý nhất của dân tộc. Tôi xin khiêm tốn trao tặng viên ngọc quý này cho nền Quốc học Việt Nam.</p>
<p><strong><br />
2. LỤC TỔ HUỆ NĂNG LÀ NGƯỜI VIỆT NAM</strong></p>
<p>Trước khi đi đến những dữ kiện, tài liệu lịch sử để chứng minh Huệ Năng là người Việt Nam, tôi xin cụ thể gợi lại đây cho ta thấy &#8220;bản lai diện mục&#8221; của ngài Huệ Năng qua cái nhìn của tôi từ những dữ kiện rõ ràng có thể thấy được, dưới một luồng ánh sáng khác chiếu rọi trên con đường cô độc của một đạo sĩ Việt Nam cách đây trên 13 thế kỷ.</p>
<p>Điều sai lầm lớn nhất là mỗi khi ta nhắc đến ngài Huệ Năng thì lập tức chúng ta hình dung rằng ngài có hình dáng một cụ Hòa thượng già nua, mường tượng như những hình ảnh ta nhìn thấy trong sách vở Tàu; tất cả những hình ảnh của ngài và ngay cả hình ảnh chụp nhục thân của ngài đều là những hình ảnh do những đời sau nguỵ tạo.</p>
<p>Chúng ta cần phải thành kính thờ lạy tất cả những hình ảnh về ngài do những thế hệ đã qua để lại, vì tất cả những di ảnh ấy đều là những biểu tượng cần thiết hữu hình về ngài; chúng ta phải cần có những biểu tượng hữu hình để thờ lạy, vì cơ cấu tâm thức của chúng ta cần phải nương tựa thành kính vào một hình tượng cụ thể để mới có khả năng vượt qua hình tượng, chứ không thì dễ rơi vào chủ nghĩa hư vô. Nhu yếu vô hình và siêu hình của tâm hồn phải cần nương tựa vào một hình tượng nhất định để rồi siêu hóa và chuyển hóa tất cả những hình tượng. Chính ngay đương thời với ngài Huệ Năng, theo truyền thuyết, có đệ tử tạc tượng ngài, nhưng chính ngài Huệ Năng ngó tượng và mỉm cười: &#8220;Ngươi chỉ có tài nặn hình mà chẳng hiểu được tánh Phật&#8221;. Dù đây chỉ là đoạn văn do người sau thêm vào Tông Bảo của Pháp Bảo Đàn kinh, nhưng vẫn nói lên được cụ thể cái tinh thần vô tướng của nguyên ngữ khí của Huệ Năng. (Bản Tông Bảo có điều vô lý là ghi rằng Phương Biên, người tạc tượng, đã gặp Bồ Đề Đạt Ma, đến trước Huệ Năng năm đời Tổ).</p>
<p>Chúng ta thường hình dung nét mặt của ngài Huệ Năng là nét mặt hiền hậu của một cụ già, nhưng chúng ta đã quên rằng Huệ Năng đã từng rất trẻ, và chính tuổi trẻ của Huệ Năng quyết định hết tất cả sự nghiệp tâm linh vĩ đại của Huệ Năng, vì tất cả những bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh đều giống nhau ở chỗ nói lên tuổi trẻ của Huệ Năng, khi ngài đến gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.</p>
<p>Ba điều cần nhấn mạnh về tuổi trẻ của ngài Huệ Năng:</p>
<p>- Thứ nhất: Huệ Năng đã đắc đạo vừa lúc mới nghe người lạ tụng kinh Kim Cang trước khi ngài đến gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn;</p>
<p>- Thứ hai: Huệ Năng là một thanh niên đầy tự tin, hãnh diện về sự chứng ngộ tâm linh của mình và không hề có một mặc cảm tự ti nào cả khi mới vừa gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Theo tiêu chuẩn lễ nghi, lễ phép ở tông môn thì cách đối đáp của Huệ Năng (vừa mới gặp Ngũ Tổ lần đầu tiên) quả thực là rất &#8220;vô lễ&#8221;.Ngay ở Việt Nam ngày nay, cũng không thấy một thanh niên trẻ măng mới đến chùa xin đi tu mà dám cả gan đối đáp như vậy với một vị Hòa thượng nổi tiếng (như Hoằng Nhẫn), huống chi đây là một thanh niên ngoại quốc ở vùng nhược tiểu &#8220;man rợ&#8221; mà dám đối đáp với Đại lão Hòa thượng đại cường quốc thống trị Trung Hoa thịnh Đường như vậy; Hoằng Nhẫn giả vờ hỏi một câu chê trách về nguồn gốc Việt Nam của Huệ Năng thì Huệ Năng trả đũa ngay lập tức như một kẻ đã chứng ngộ rồi mới dám khẳng định rằng: &#8220;Con người tuy có Tàu có Việt, tuy thân mọi rợ này không giống với thân Hòa thượng, nhưng Phật tánh trong Hòa thượng và trong tôi chẳng có gì là sai biệt&#8221;. (Chúng ta phải hiểu chữ &#8220;Bắc&#8221; trong kinh có nghĩa là &#8220;Trung Quốc&#8221; và &#8220;Nam&#8221; có nghĩa là Việt Nam; ngày xưa người Trung Hoa coi nước Việt Nam là thuộc địa miền Nam của họ);- Thứ ba: Huệ Năng không được Hoằng Nhẫn dạy đạo gì cả và chỉ ở chùa với Ngũ Tổ có tám tháng mà thôi, và được Ngũ Tổ trao truyền y pháp và ngôi Lục Tổ, lúc Huệ Năng mới có được khoảng 22 tuổi và chỉ non khoảng 23 tuổi. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn chỉ giữ vai trò danh dự là ấn chứng cho Huệ Năng, vì thế Ngũ Tổ mới lén lút kêu gọi Huệ Năng đêm khuya vào gặp riêng Ngũ Tổ để ngài trao y pháp và giảng cho một thời kinh Kim Cang gọi là lấy lệ thôi, rồi sau đó Ngũ Tổ âm thầm lén lút đưa tiễn Huệ Năng đến trạm Cửu Giang, và đuổi khéo Huệ Năng trở về rừng rú Việt Nam, không dám giữ lại đất Trung Hoa, vì Ngũ Tổ đã làm một việc can đảm phi thường nhất đáng ngại: trao ngôi vị lớn nhất của Thiền tông (lúc đó chưa có tên là &#8220;Thiền tông&#8221; mà chỉ có tên là Đông Sơn pháp môn) cho một thanh niên &#8220;mọi rợ&#8221; mới chưa đầy 23 tuổi.</p>
<p>Có một điều không nên quên đó là lần đầu tiên và có thể là lần cuối cùng độc nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa mà ngôi vị Tổ sư của một tông pháp lớn nhất của Phật giáo lại được trao truyền cho một người ngoại quốc còn rất trẻ tuổi và chưa thọ giới xuất gia gì cả (Huệ Năng chỉ làm lễ thế phát xuất gia theo điệu hình thức lúc gần 40 tuổi, vì &#8220;phương tiện thiện xảo&#8221;, vì từ bi để hoằng pháp và gìn giữ ý nghĩa siêu việt của chữ &#8220;Tăng&#8221; trong Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), nhưng chi tiết này cũng do những bản đời sau của Pháp Bảo Đàn kinh thêm vào để cho &#8220;cụ túc&#8221; hình tướng cần thiết hóa độ).</p>
<p>Chúng ta phải tán thán công đức siêu phàm của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ở đây: Hòa thượng đã nhìn nhận ra tất cả vĩ đại phi thường của một anh con nít, chưa đầy 23 tuổi, lại thuộc giống người &#8220;mọi rợ&#8221;, chưa xuất gia; và Hòa thượng khéo léo kín đáo trao truyền tất cả trách nhiệm tâm linh nặng nề nhất của đạo pháp, khéo léo khuyên Huệ Năng lui trở về Việt Nam và trốn tránh ở Việt Nam, chứ đừng ra mắt xuất hiện ở đất Trung Hoa nữa; Huệ Năng đã nghe lời dạy của Ngũ Tổ và đã mất dạng ở đất Trung Hoa trong vòng mười sáu năm; ngài trở về ẩn náu ở vùng rừng núi Việt Nam và đến mười sáu năm sau mới xuất hiện giữa vùng biên cương hai nước để thuyết pháp.</p>
<p>Từ ba điều cần nhấn mạnh trên, bây giờ chúng ta thử hình dung người thanh niên Huệ Năng. Chúng ta thử hình dung cách đây trên 13 thế kỷ, lúc đó tại vùng miền Bắc nước Việt Nam, quanh quẩn đâu đó thuộc vùng thượng du Bắc Việt, có một đứa con nít Việt Nam ra đời khoảng năm 638, tại vùng đất gọi là Lĩnh Nam, tức là Việt Nam, lúc đó nước Việt Nam đã mất chủ quyền độc lập, gọi là thời Bắc thuộc lần thứ ba, vào thời nhà Đường (cuộc Bắc thuộc dã man này kéo dài từ năm 603 cho đến năm 939).Tất cả những gì huy hoàng nhất của Việt Nam trong giai đoạn ấy đều bị Trung Hoa đồng hóa sát nhập vào sở hữu của họ).</p>
<p>Cũng xin mở dấu ngoặc ở đây: Phật giáo Việt Nam lúc ấy rất huy hoàng và có nhiều vị sư Việt Nam đã được triệu thỉnh về triều đình Trung Hoa để dạy đạo Phật cho vua quan học; đó là chưa nói đến Trung tâm Phật giáo Đại thừa có từ trước đời Đường ít nhất ba, bốn thế kỷ là nước Vu Điền (Khotan) ở Trung Á đã sản xuất bao nhiêu đạo sĩ truyền giáo Đại thừa cho Trung Hoa, hầu hết tất cả những vị này đã mang kinh điển Phật giáo đến Trung Hoa từ thế kỷ thứ hai và mấy thế kỷ sau; hầu hết tất cả những vị truyền giáo vùng Trung Á này đều đi bằng đường biển đến Trung Hoa và bắt buộc phải ghé Việt Nam trước khi đổ bộ sang Trung Hoa (ngay cả Bồ Đề Đạt Ma, người vùng Trung Á, chứ không phải Ấn Độ, vì không có sách Phật giáo Ấn Độ nào nói đến Bồ Đề Đạt Ma cả, ngay cả tài liệu Tây Tạng về Phật giáo Ấn Độ cũng không có nói đến Bồ Đề Đạt Ma), ngay đến Bồ Đề Đạt Ma, người vùng Trung Á, cũng phải đi đường biển và mất hết ba năm trời mới đến Trung Hoa, như thế trong thời gian ba năm đó, Bồ Đề Đạt Ma cũng phải lưu lại Việt Nam trước khi sang Trung Hoa.</p>
<p>Việt Nam đã từng chịu ảnh hưởng mạnh về hình thức Phật giáo Trung Hoa, nhưng ngược lại Việt Nam đã ảnh hưởng lại Trung Hoa rất mãnh liệt mà ít ai thấy được, và trường hợp Huệ Năng là một thí dụ điển hình. Phật giáo Việt Nam đã ảnh hưởng mãnh liệt đến Phật giáo nước ngoài, như một trường hợp điển hình khác ít ai biết: năm 735, Thiền sư Việt Nam tên là Phật Triệt đã đến Nhật Bản và dạy chữ Phạn cho những Tăng sĩ Nhật Bản, và đồng thời Tổ sư trao truyền nhạc Phật giáo cho nền vũ nhạc triều đình Nhật Bản mà ngày nay người Nhật rất hãnh diện đã giữ lại nền vũ nhạc tuyệt vời ấy và coi như &#8220;một trong những kỳ quan của thế giới&#8221; và chính người Nhật cũng công nhận rằng đó là nền vũ nhạc mà chính một người Việt Nam đã trao truyền cho họ vào thế kỷ thứ VIII đang khi đó ở Việt Nam chúng ta đã quên mất hết tất cả những gì gọi là tinh túy của dân tộc (*). Đây là một trường hợp đáng lưu ý cho những người quan tâm đến quốc học mà tôi sẽ đề cập trong dịp khác.</p>
<p>Bây giờ xin đóng dấu ngoặc lại và trở về ngài Huệ Năng.Chúng ta thử tưởng tượng hình dung một đứa con nít Việt Nam khi sinh ra đời thì nước Việt Nam đã trở thành lãnh thổ của nước Trung Hoa. Chúng ta chỉ biết đứa con nít ấy tên là Năng (chữ &#8220;Huệ&#8221; có thể do Ngũ Tổ đặt thêm cho Năng). Không ai biết rõ tung tích của đứa bé ấy, chỉ biết rõ rằng đứa bé ấy là người đất Lĩnh Nam (tức là Việt Nam). Ngay đến tên tuổi cha mẹ của Huệ Năng trong bản Đôn Hoàng và những bản sau của Pháp Bảo Đàn kinh đều do những thế hệ sau thêm vào (bản Đôn Hoàng Pháp Bảo Đàn kinh xuất hiện sau năm viên tịch của Huệ Năng ít nhất trên một thế kỷ sau). Khi đứa trẻ ấy lớn lên khoảng ngoài hai mươi tuổi, ở vùng gần biên giới Trung Hoa, nghèo khổ, phải đi bán củi nuôi sống, người nhỏ bé, ốm yếu, gầy đét, nhưng thông minh siêu phàm xuất chúng; tình cờ chỉ nghe một người tụng kinh Kim Cang mà giác ngộ; Huệ Năng biết nói tiếng Tàu, nhưng nói đại khái thôi và không rành lắm: dữ kiện lịch sử đã chứng minh rằng Huệ Năng nói không rành tiếng Tàu (đã được những hậu bản kinh Pháp Bảo Đàn ghi chép) dù Huệ năng có nói tiếng Tàu theo giọng Quảng Đông đi nữa thì không có lý do gì mà Huệ Năng phải cần tự biện hộ (ngài đối đáp với Hoằng Nhẫn) lúc Ngũ Tổ đưa ngài đến trạm Cửu Giang để trở về Việt Nam, nhất là trong một lúc nghiêm trọng như sắp vĩnh biệt Ngũ Tổ.</p>
<p>Chẳng hạn đọc lại bản Tông Bảo của Pháp Bảo Đàn kinh:&#8221;Lúc vào canh ba, Huệ Năng lãnh được y bát rồi thì mới hỏi: &#8220;Năng này gốc gác là người Việt Nam, vốn chẳng biết đường đi vùng núi này, làm thế nào mà ra vàm sông?&#8221;. Ngũ Tổ đáp, con chẳng cần đi, tự ta sẽ đưa con đi. Tổ đưa Huệ Năng thẳng tới trạm Cửu Giang. Rồi Tổ bảo Huệ Năng lên thuyền, ngài cầm mái chèo lấy, nhưng Huệ Năng nói: &#8220;Xin Hòa thượng ngồi và hãy để đệ tử chèo lấy mới phải&#8221;. Tổ nói: &#8220;Đáng lẽ ta độ cho người&#8221;. Huệ Năng trả lời: &#8220;Khi mê thì thầy độ cho, ngộ rồi thì mình độ lấy mình. Chữ &#8220;độ&#8221; tuy có một mà chỗ dùng chẳng giống nhau. Huệ Năng này sinh ở chốn biên thùy xa xôi, thành ra tiếng nói không được đúng. Nhờ thầy truyền pháp rồi và nay đã đắc ngộ rồi thì chỉ tự mình mà độ lấy mình thôi&#8221;.</p>
<p>Chúng ta thấy gì trong lời ghi chép trên? Hiển nhiên chữ Hán &#8220;độ&#8221; có nghĩa là &#8220;đưa&#8221; mà cũng có nghĩa là &#8220;cứu độ&#8221;. Khi Huệ Năng trả lời: &#8220;Lúc mê thì Tổ sư độ, ngộ rồi thì tự độ lấy mình. Huệ Năng này sanh tại xứ dã man và giọng nói không đúng, nhờ Tổ sư truyền pháp, nay đã được tỏ sáng thì chỉ nên mình tự độ lấy mình&#8221;.</p>
<p>Đoạn này mới nghe qua tưởng dễ hiểu. Nếu chúng ta biết nhìn thấy qua bên trong sự việc thì chúng ta sẽ thấy được mật ý của đoạn văn. Đây không phải lúc mà Huệ Năng có thể &#8220;chơi chữ&#8221; với Tổ sư, vì đây là giây phút vô cùng nghiêm trọng và ngôn ngữ ở đây là ngôn ngữ bí mật giữa hai thiền sư; ngôn ngữ bí mật nằm giữa hai biên giới, biên giới Sống và Chết: một Tổ sư rút lui về sự Chết và một Tổ sư khác mới khai sinh. Huệ Năng đã hiểu mật ý của Ngũ Tổ và muốn nói với Ngũ Tổ rằng: &#8220;Thầy muốn đưa con về Việt Nam là để cứu thoát con để khỏi bị lâm nạn ở đất Tàu, vì con nói tiếng Tàu không rành, là người mọi rợ, lại lên ngôi vị Tổ sư, nhưng thầy đưa con đi đây có nghĩa rằng thầy muốn cứu thoát con, dù con nói không rành tiếng Tàu, nhưng con cũng hiểu ý của thầy khi thầy muốn &#8220;đưa&#8221; con đi và đồng thời muốn &#8220;cứu thoát&#8221; con (&#8220;độ&#8221;), con đã hiểu ý thầy rồi thì con phải tự cứu thoát lấy mình và trở về Việt Nam&#8221;.<br />
Tất cả mật ý trên chỉ muốn nói lên điều duy nhất: Huệ Năng hiểu lý do tại sao Ngũ Tổ đưa trả Huệ Năng về Việt Nam, vì rất nguy hiểm cho tính mệnh của một người thanh niên trẻ tuổi, người &#8220;man rợ dã man&#8221; mà được trao truyền ngôi vị Tổ sư thống lãnh tất cả Đông Sơn pháp môn, trường phái nổi tiếng nhất của Trung Hoa hồi đó.Chỉ có thể hiểu như vậy mới không thấy cái &#8220;lố bịch&#8221; của Huệ Năng khi tỏ vẻ &#8220;khôn vặt&#8221; chơi chữ với chữ &#8220;độ&#8221; trong một giây phút linh thiêng nhất, lúc giã biệt thầy.</p>
<p>Sau đó, chàng thanh niên Huệ Năng phải mai danh ẩn tích ở rừng núi Việt Nam trong khoảng mười sáu năm trời, rồi mới dám xuất đầu lộ diện thuyết pháp ở vùng biên giới Trung &#8211; Việt.Ngài Huệ Năng thuyết pháp trên ba mươi mấy năm trời chung quanh vùng Quảng Đông và vùng biên giới Trung &#8211; Việt, và cả nước Trung Hoa lúc ấy không ai biết đến tên tuổi ngài cả, lúc ấy Thần Tú được trọng đãi ở triều đình Trung Hoa và được chính thức coi như Lục Tổ của Đông Sơn pháp môn (lúc đó chưa có phân biệt &#8220;Bắc Tú, Nam Năng&#8221; như ta thấy trong bản Đôn Hoàng và những hậu bản Pháp Bảo Đàn kinh).<br />
Danh tiếng, uy thế của Thần Tú và đệ tử Phổ Tịch lẫy lừng vang dội và được vua Trung Hoa coi như Quốc sư, đang khi ấy ngài Huệ Năng chỉ là một ông đạo sĩ &#8220;man rợ&#8221; tối tăm ở biên cương, chỉ có được một số môn đệ người Trung Hoa trung thành sùng bái, trong số đó có một người tên là Thần Hội; chính Thần Hội sau này đã khôi phục lại ngôi vị Tổ sư thứ sáu cho Huệ Năng và rao truyền đạo lý Đốn ngộ Bát nhã của Huệ Năng và đẩy lùi tất cả những trường phái Thiền tông khác đi vào bóng tối của lịch sử. Tất cả tư tưởng đạo lý của Thần Hội đều được rút ra trực tiếp từ Huệ Năng.</p>
<p>Vai trò quyết định của Thần Hội đối với lịch sử Phật giáo Thiền tông Trung Hoa và Nhật Bản chỉ mới được Hồ Thích khám phá ra từ những tài liệu đào ra được ở động Đôn Hoàng, lưu giữ ở Thư viện Quốc gia Paris. Tác phẩm của Thiền sư Thần Hội đã thất lạc từ lâu ở Trung Quốc và Nhật Bản, chỉ nhờ Hồ Thích khám phá ra ở thư loại Pelliot tại Paris mà lịch sử Phật giáo Thiền tông Trung Hoa đã được viết lại hết, chẳng những tài liệu của Hồ Thích thôi mà còn bao nhiêu tài liệu khác từ Đôn Hoàng đã giúpc ho các học giả Nhật và phương Tây thấy rằng sự thực lịch sử về sự thành hình của Thiền tông không giống như những tài liệu lịch sử Phật giáo Trung Hoa như chúng ta từng quen biết từ lâu.</p>
<p>Những gì chúng ta biết được về những Tổ sư Trung Hoa từ Bồ Đề Đạt Ma cho đến Huệ Năng đều do những truyền thuyết nguỵ tạo ở những thế hệ sau. Tất cả những sử gia Trung Hoa và ngoại quốc muốn viết gì về Huệ Năng đều lấy tài liệu chứng minh từ bộ Toàn Đường văn (Đài Bắc, 1961, 20 cuốn), nhưng theo giáo sư Yampolsky thì bộ &#8220;Bộ sách Toàn Đường văn&#8221; được biên soạn vào năm 1814 và sử dụng tạp nhạp tất cả những tài liệu một cách bừa bãi, và nhiều tài liệu đã được viết ra sau này và rất gần đây, thành ra không thể tin vào giá trị của những tài liệu ấy&#8221; (Yampolsky, op. cit., trang 31).</p>
<p>Sau khi khảo xét rất kỹ lương tất cả tài liệu liên quan đến Huệ Năng trong bộ Toàn Đường văn, Yampolsky phải đi đến kết luận rằng tất cả đều là ngụy tạo (op. cit., trang 59). Sau khi đã duyệt qua hàng ngàn tài liệu Trung Hoa và Nhật Bản, cùng những tài liệu khai quật ở Đôn Hoàng, Yampolsky đi đến kết luận rằng: &#8220;Chúng ta không có được những dữ kiện nào về Huệ Năng cả&#8230; (For Hui-Neng we have no facts&#8230;&#8221; op. cit., trang 60). &#8220;Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng thực ra gần như không có gì để chúng ta có thể nói thực sự về Huệ Năng&#8221; (&#8220;We may only conclude that there is infacts, almost nothing that we can really say about him&#8221;, op. cit., trang 69).</p>
<p>Theo Yampolsky, chúng ta chỉ biết chắc có một điều là có một người tên là Huệ Năng, một thiền sư có đôi chút tiếng tăm đương thời và sống đâu đó ở vùng miền Nam Trung Hoa&#8221;. Theo Yampolsky, chỉ có hai tài liệu đáng tin cậy: thứ nhất là Lăng Già sư tử ký (khai quật ở Đôn Hoàng), và tài liệu này chỉ nhắc đến tên Huệ Năng như là một trong mười học trò của Hoằng Nhẫn, chỉ thế thôi và không có ghi chép sự kiện gì khác; tài liệu thứ hai là bia ký của thi hào Vương Duy vào khoảng năm 740. Còn tất cả những tài liệu khác đều do những thời đại sau ngụy tạo.</p>
<p>Trong bia ký của thi hào Vương Duy mà Yampolsky đã trích dịch ở trang 66-67 (op. cit.), chúng ta chỉ thấy Vương Duy ghi rằng: &#8220;Nơi quê quán của Thiền sư Huệ Năng không ai biết. Thiền sư sinh sống ở một thôn làng mọi rợ. Khi trẻ, học đạo với Hoằng Nhẫn, thiên tài của ngài được Ngũ Tổ ghi nhận và được trao truyền y pháp; Ngũ Tổ bảo ngài phải lìa bỏ (tức là lìa bỏ đất Trung Hoa), và trong mười sáu năm, ngài sống ẩn trốn với phường buôn bán dân ngu khu đen (tức là phường dân ngu khu đen ở Việt Nam).</p>
<p>Từ hai dữ kiện lịch sử trên và dựa theo tất cả những bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh, và loại bỏ tất cả những gì có tính cách thần thoại hay truyền thuyết (và ngay cả bản Đôn Hoàng Pháp Bảo Đàn kinh chỉ được chép vào năm 830-860, gọi là do Pháp Hải ghi lại, chưa hẳn là nguyên bản của Pháp Bảo Đàn kinh mà những học giả Nhật cho rằng đã có một nguyên bản khác đã được viết vào khoảng năm 713-714 sau khi Huệ Năng viên tịch, bản này đã mất và chưa tìm lại được); dựa vào tất cả những dữ kiện kiểm chứng được, chúng ta chỉ có thể có những kết luận sau đây:- Huệ Năng là người Việt Nam, sinh ở Lĩnh Nam;- Lĩnh Nam là đất Việt Nam (ngày xưa Lưỡng Quảng: Quảng Đông và Quảng Tây cũng thuộc Việt Nam).</p>
<p>Ngay đến Yampolsky cũng đã chú thích rất rõ: &#8220;Lĩnh Nam là những vùng ở Quảng Đông, Quảng Tây, và miền &#8220;Bắc Đông Dương Việt Nam&#8221; (&#8220;Ling-nan indicates the areas of Kwangtung, Kwangsi, and Northern Indochina&#8221;, op. cit., trang 126). Còn địa danhh &#8220;Nam Hải&#8221; ghi trong tất cả những bản Pháp Bảo Đàn kinh thì theo Yampolsky đó là Phiên Ngung, tức là thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày xưa (xin đọc Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, trang 37: &#8220;Triệu Đà đánh được An Dương vương, sát nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, tức là Vũ vương, đóng đô ở Phiên Ngung&#8221;).</p>
<p>Ngoài ra, còn một điểm đáng lưu ý mà Yampolsky đã nêu ra: Bài thuyết pháp quan trọng nhất của Huệ Năng là ở chùa Đại Phạm, nhưng theo Yampolsky thì, không ai có thể truy tìm cho ra chùa Đại Phạm ở đâu, chỉ biết chùa ấy còn có tên là chùa Báo Ân. Ngôi chùa quan trọng nhất, nơi xảy ra bài thuyết pháp quan trọng nhất của Huệ Năng và là nội dung quan trọng nhất của tất cả các bản Pháp Bảo Đàn kinh mà không có học giả nào truy ra được địa điểm đích xác, đang khi đó, một sự kiện lạ lùng, là chúng ta đã thấy cái tên chùa Báo Ân rất nhiều lần trong quyển Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, cuốn 1, trang 342 và 344; và điều lạ lùng nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam: trong Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi có hai tên khuyết lục vào thế hệ thứ năm và thế hệ thứ sáu, vào thế kỷ thứ VII và thế kỷ thứ VIII, đồng thời với Huệ Năng và Thần Hội (mà Thần Hội ở chùa Hà Trạch, Hà Trạch nào, phải chăng là Hà Trạch ở Lạc Dương hay Hà Trạch ở Việt Nam?), vì trong Lĩnh Nam chích quái có ghi rằng: &#8220;Thiền sư Không Lộ kết làm đạo hữu với Giác Hải, lần đến chùa Hà Trạch nương thân&#8230;&#8221; (trang 90). Và riêng về tài liệu Phật giáo Việt Nam có một nghi vấn mà chưa ai trả lời được và còn ghi lại trong Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (trang 224 và 98): có hai hệ phái Đại Điên và Bát Nhã không được chép vào lịch sử những thế hệ truyền thừa. Chúng ta cũng nên nhớ rằng Huệ Năng và Thần Hội thuộc vào hệ phái Bát Nhã và chống lại hệ phái Lăng Già của Thần Tú và Phổ Tịch.</p>
<p>Có một điều đáng nói hơn nữa, đang khi Huệ Năng đương thời không được người Trung Hoa biết đến, và mãi sau đến sự xuất hiện hoằng pháp của Thần Hội (sau khi Huệ Năng đã chết lâu rồi) thì ảnh hưởng của Huệ Năng lớn mạnh như vũ bão quét sạch tất cả tông phái khác ở đất Trung Hoa, đang khi ấy nước Trung Hoa không có một tổ đình nào mang tên là Lục Tổ thì trái lại tại Việt Nam đã có một tổ đình rất lâu đời, mang tên là Tổ đình Lục Tổ (xin đọc Nguyễn Lang, trang 218, trang 98, trang 101).</p>
<p>Như trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì Tổ đình Lục Tổ đã có tới trên 400 năm, tính kể từ cuối thế kỷ thứ XII, tức là Tổ đình Huệ Năng đã có từ thế kỷ thứ VIII, thời đại của Huệ Năng (Huệ Năng viên tịch vào thập niên đầu thế kỷ VIII, tức khoảng năm 713) (Nguyễn Lang, op. cit., trang 101). Thiền sư Thần Hội, đệ tử của Huệ Năng chỉ xuất hiện ở những kinh đô Trung Hoa để vũ bão quét sạch tất cả những tông phái Thiền của Phổ Tịch (đệ tử Thần Tú) và lấy lại ngôi vị Lục Tổ cho Huệ Năng, bắt đầu từ năm 732, và Thần Hội đã chiến thắng vẻ vang rực rỡ và mất đi vào năm 758 hay 760, thì đang lúc đó ở Việt Nam đã có một tổ đình mang tên là Lục Tổ. Còn một điều nữa là quyển Nam Tông tự pháp đồ (ghi lại lịch sử truyền thừa của Phật giáo Việt Nam) đã bị mất, và chính mấy chữ &#8220;Nam Tông&#8221; đáng cho chúng ta lưu ý, vì mấy chữ ấy chỉ xuất hiện với sự xuất hiện của Thần Hội vào khoảng từ năm 732 trở đi.</p>
<p>Còn một điểm lịch sử vô cùng quan trọng đáng cho chúng ta suy nghĩ: &#8220;Thiền sư Việt Nam La Quý An quyên góp tài sản và đúc một tượng Lục Tổ bằng vàng, chôn ở gần tam quan để khỏi bị trộm cắp, dặn rằng khi nào có bậc minh vương ra đời để giúp dân cứu nước thì đào lên&#8221;. Đây có ngụ ý chính trị gì đối với dân tộc Việt Nam lúc ấy, và nhất là một điểm khác sau đây: &#8220;Ngày Lý Công Uẩn được suy tôn hoàng đế trong cung thì Thiền sư Vạn Hạnh đang ở chùa Lục Tổ (đọc Nguyễn Lang, op. cit., trang 243-24). Nơi đây chứa đựng những bí mật nào về lịch sử của dân tộc mà chúng ta không còn để ý tới? Nhất là phải cần nhớ rằng Huệ Năng là đại diện cho ý thức độc lập của Việt Nam chống lại Trung Hoa, chẳng những về phương diện đạo lý mà còn đại diện ý thức độc lập tự chủ chính trị của chính trị Việt Nam đối với Trung Hoa; chúng ta phải cần nhớ lại rằng Thần Hội đã bị triều đình Trung Hoa bắt giam và lưu đày vì bị kết án là &#8220;muốn âm mưu chính trị có hại cho chính quyền Trung Quốc&#8221;. (cf. Yampolsky, op. cit., trang 36). Và chính Thần Hội đã tạo ra vai trò Bồ Đề Đạt Ma (truyền thừa y bát của Bồ Đề Đạt Ma cho đến Huệ Năng) và cũng chính Thần Hội lật đổ vai trò tối ư quan trọng của Thần Tú và Phổ Tịch (đệ tử Thần Tú) lúc bấy giờ và giành lại ngôi vị Lục Tổ cho Huệ Năng và đưa Thiền Việt Nam của Huệ Năng thống trị cả Phật giáo Trung Hoa.</p>
<p>Đây không phải chỉ là sự chiến thắng về mặt ý thức đạo lý Việt Nam mà cũng là sự chiến thắng của tư tưởng Bát nhã đối với tư tưởng Lăng già (của phái Lăng Già tông, tức là tất cả trường phái Thiền Trung Quốc đương thời mà đại diện là Pháp Như, Thần Tú và Phổ Tịch).</p>
<p>Tất cả bản kinh khác nhau của Pháp Bảo đàn kinh đều xác nhận hai điều quan trọng:</p>
<p>- Thứ nhất: Huệ Năng không biết đọc và không biết viết chữ Tàu;</p>
<p>- Thứ hai: Huệ Năng sinh trưởng tại Lĩnh Nam và hoằng pháp chung quanh vùng Nam Hải, tức là Phiên Ngung (thuộc lãnh thổ Việt Nam thời đó).Và điều quan trọng là tất cả các bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh đều còn giữ lại ít nhất hai lần, nếu không muốn nói là năm sáu lần những câu đại loại sau đây để chứng tỏ Huệ Năng không phải là người Hán tộc mà là người Việt Nam:- Hoằng Nhẫn mắng Huệ Năng: &#8220;Mi là dân Lĩnh Nam, vốn là đồ mọi rợ, làm thế nào thành Phật được?&#8221; (phân đoạn 3, bản Đôn Hoàng).- &#8220;Thực không ai ngờ nơi đất Lĩnh Nam lại được phúc có Phật sinh ra nơi ấy&#8221; (phân đoạn 37, bản Đôn Hoàng).</p>
<p>Mấy chữ &#8220;đồ mọi rợ&#8221; ở đây là dịch mấy chữ chửi thề ở đời đường &#8220;các lão&#8221; mà Yampolsky đã chú thích như sau: &#8220;Ko-lao&#8221; (các lão) là một tiếng mắng chửi, có nghĩa là dân dã man, gần như súc vật ở phương Nam nước Trung Hoa (tức là Việt Nam)&#8221; (op. cit., trang 127).Chỉ nội mấy chữ &#8220;các lão&#8221; trên cũng đủ để chứng minh Huệ Năng không phải người Trung Hoa mà là người Lĩnh Nam. Và riêng mấy chữ &#8220;Lĩnh Nam&#8221;, chúng tôi xin trở lại Lĩnh Nam chích quái: theo giáo sư Lê Hữu Mục, dịch giả Lĩnh Nam chích quái thì &#8220;Lĩnh Nam chích quái còn mang nhiều giá trị lịch sử, lịch sử vẻ vang của tổ tiên trong công cuộc xây dựng đất nước&#8221; (trang 28). Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng: Nếu nói Lĩnh Nam là của Trung Hoa thì chúng ta phải bôi hết Lĩnh Nam chích quái và phải bôi hết &#8220;lịch sử vẻ vang của tổ tiên trong công cuộc xây dựng đất nước&#8221; (Lê Hữu Mục). Nếu có người Việt Nam nào lên tiếng nói rằng Huệ Năng người đất Lĩnh Nam là người Trung Hoa, thì tôi phải kết luận rằng &#8220;người Việt Nam&#8221; ấy cho tới thế kỷ thứ XX vẫn chấp nhận &#8220;sự Bắc thuộc lần thứ ba&#8221; của Trung Hoa, vì lúc đó vào thời Huệ Năng, chúng ta bị coi như lệ thuộc Trung Hoa. Mặt khác, nếu có người Trung Hoa nào muốn chứng minh Huệ Năng là người Trung Hoa thì phải bôi mấy chữ &#8220;các lão&#8221; và &#8220;Lĩnh Nam&#8221; trong tất cả những bản Pháp Bảo Đàn kinh được chép ra liên tiếp trong mười ba thế kỷ.</p>
<p>Giữa những khó khăn lớn lao đang xảy đến cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại quê hương, giữa những ngày khó khăn trong thời gian phải đối diện và hóa giải những thử thách gay gắt dành cho Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ mà tôi là đại diện lãnh đạo, mỗi khuya tôi đã thức dậy tụng kinh Lăng Nghiêm, sau đó, tôi đã kiên nhẫn âm thầm yên lặng trong ba tháng An cư kiết hạ ngồi dịch lại tiếng nói của ngài Huệ Năng, trả lại tiếng nói của ngài về đúng tiếng mẹ đẻ của ngài: tiếng Việt Nam, để cho tất cả chúng ta, những người Phật tử Việt Nam ở hải ngoại, trong tình cảnh sống tha phương trên đất khách, được nghe lại tiếng nói của hồn Dân tộc và Đạo pháp, tiếng nói của một thiên tài vĩ đại nhất Việt Nam và một trong những thiên tài tâm linh lớn nhất của nhân loại. Dù bất cứ chúng ta lưu lạc ở phương trời nào, mỗi khi chúng ta không quên được tiếng nói của quê hương, tiếng nói suối nguồn trong khiết của đạo lý, thì &#8220;chính thân thể mình là quê hương&#8221; như ngài Huệ Năng đã nói, và dù có ai đã đem vô minh đen tối đến cho quê hương và đạo pháp, nhưng chơn lý vẫn luôn luôn chiến thắng như ngài Huệ Năng đã nhắn lại với chúng ta: &#8220;Cũng như một ngọn đèn có thể trừ được một ngàn năm bóng tối thì một ánh sáng của trí tuệ cũng có thể diệt được một vạn năm ngu si đen tối&#8221;.LosAngeles,ngày1tháng9năm1985<br />
Hòa thượng THÍCH MÃN GIÁC(*)</p>
<p>Theo học giả Hajime Nakamura, vũ nhạc triều đình Nhật Bản (tên Nhật là bungaku hoặc gagaku) đã được du nhập vào Nhật Bản cách đây 1.200 năm do một thiền sư Việt Nam tên là Phật Triệt. Đó thật là một trong những kỳ quan của nhân loại (one of wonders of the world). Người Nhật đã hãnh diện chí lý về nghệ thuật này mà họ đã gìn giữ được qua bao nhiêu thế kỷ (cf. Hajime Nakamura, Contribution of Eastern Thought and Buddhism to world culture, Vạn Hạnh Bulletin, Vol.V, Number 2, June, 1973, trang 157).</p>
<p>Theo học giả Nhật Kyòshò Hayashima thì Thiền sư Phật Triệt đã dạy nhạc Việt Nam ở Học nhạc viện Hoàng gia Nhật, vũ nhạc tên là rinyù-hachiraku, và Thiền sư Phật Triệt dạy chữ Phạn cho Tăng sĩ Nhật (cf. Encyclopedia of Buddhism, Vol.III, 1972).</p></div>
<div>OM MANI PADME HUM</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/luc-to-hue-nang-la-nguoi-viet-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tôi niệm Phật Thích Ca</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/toi-niem-phat-thich-ca/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/toi-niem-phat-thich-ca/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 11 Sep 2012 09:30:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=693</guid>
		<description><![CDATA[Khác với các tôn giáo khác cho con người là một thứ tội lỗi cần phải được cứu rỗi, giáo pháp của Đức Phật đề cao giá trị của con người và Ngài khuyến khích con người, qua sự tu tập, khai thác những năng lực sẵn có trong mình &#8211; nhưng do vô minh [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Khác với các tôn giáo khác cho con người là một thứ tội lỗi cần phải  được cứu rỗi, giáo pháp của Đức Phật đề cao giá trị của con người và  Ngài khuyến khích con người, qua sự tu tập, khai thác những năng lực sẵn  có trong mình &#8211; nhưng do vô minh khuất lấp nên không nhận ra &#8211; để có  thể làm chủ lấy vận mệnh của mình và có thể đạt đến Giác ngộ.</p>
<div id="attachment_681" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/phat-thich-ca5.jpg"><img class="size-full wp-image-681" title="Duc Phat Bon Su" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/phat-thich-ca5.jpg" alt="Duc Phat Bon Su" width="600" height="1031" /></a><p class="wp-caption-text">Phat Thich Ca Bon Su</p></div>
<p>Tặng Hoàng Yến<br />
Chuyện  xảy ra từ hai năm trước khi tôi là một phụ nữ độc thân tuổi lưng chừng  giữa 25 và 30 có nhan sắc cũng dễ nhìn. Tôi có công việc ổn định, có bạn  bè tốt và trên hết gia đình tôi khá hòa thuận. Ba, mẹ tôi thuộc loại  người biết hy sinh cho con cái. Tôi có một cậu em trai và hai cô em gái,  thỉnh chúng tôi cũng “khắc khẩu”, cãi nhau om sòm nhưng quan trọng hơn  cả là chúng tôi biết thương yêu nhau. Trong công việc làm nhiều khi tôi  cũng gặp những chuyện buồn bực, nhưng tôi cho rằng đó là bản chất của  cuộc đời, có lúc thế này, có khi thế khác.</p>
<p>Do nhiều người nói là  những người tu thường do chán đời, vì gặp nhiều trắc trở nên mới đi tu  để giải nghiệp, nhằm cầu cho một cuộc sống như ý, toại nguyện hơn cho  nên tôi phải giới thiệu vòng vo như vậy để chứng tỏ cho mọi người thấy  là đối với tôi cuộc sống cho đến thời điểm hai năm trước đó vẫn ổn và  cho đến nay vẫn hoàn toàn ổn.</p>
<p>Hai năm trước, tôi là một người  “mù” về đạo Phật mặc dù mẹ đem tôi đến chùa quy y năm tôi lên 11 và tôi  được đặt cho pháp danh là Diệu Hòa.  Mẹ tôi tu niệm Phật nhưng ít khi  nói cho chúng tôi biết đạo Phật là như thế nào, thỉnh thoảng biểu chúng  tôi chở mẹ đi chùa vậy thôi và chẳng bao giờ khuyến khích tụi tôi tu có  lẽ do thấy chúng tôi ham vui quá, biết có nói chúng tôi cũng chẳng quan  tâm. Ba tôi thì cũng lạy Phật mỗi khi có dịp, do truyền thống tôn giáo  của gia đình, chứ nói về Phật pháp thì Ba tôi cũng chẳng giỏi hơn tôi.  Đó là lý do tại sao tôi “mù” về Phật pháp mặc dù tôi khai chữ “Phật”  trong cột tôn giáo trên bản lý lịch nộp cho cơ quan hẵn hoi. Tôi cho  mình là kẻ vô thần, chuyện tu hành ư? Về già thấy có nhu cầu thì lúc đó  tu cũng đâu có sao!</p>
<p>Ngày nọ, tôi bắt gặp người bạn trong cơ quan  cứ có chút thời gian rảnh là chúi mũi vào cuốn “Vì sao tin Phật?” của  hòa thượng Sri Dhammananda, tôi tò mò hỏi mượn xem thử, từ xem thử hóa  ra xem thiệt luôn. Tôi bị lôi cuốn bởi hình ảnh một con người phi thường  có một nhân cách cao quí và trái tim từ bi của Đức Phật, một con người  toàn hảo, chỉ có một và duy nhất trong toàn thể nhân loại này, người đã  trao tặng cho thế gian một thứ giáo pháp siêu việt và tuyệt vời, không  một chút giáo điều và hoàn tòan phù hợp với tinh thần khoa học.</p>
<p>Khác  với các tôn giáo khác cho con người là một thứ tội lỗi cần phải được  cứu rỗi, giáo pháp của Đức Phật đề cao giá trị của con người và Ngài  khuyến khích con người, qua sự tu tập, khai thác những năng lực sẵn có  trong mình &#8211; nhưng do vô minh khuất lấp nên không nhận ra &#8211; để có thể  làm chủ lấy vận mệnh của mình và có thể đạt đến Giác ngộ. Tuyệt đối  trong giáo pháp Ngài, người ta không thể tìm thấy một lời nguyền rủa  hoặc một sự đe dọa trừng phạt để bắt con người phải tôn thờ Ngài như một  đấng giáo chủ tối thượng do sợ hãi  và đồng thời tự biến mình thành một  thứ nô lệ tâm linh cho Ngài. Một giáo pháp mới cao thượng làm sao!</p>
<p>Đọc  xong cuốn sách tôi tự hỏi tại sao người ta không in thật nhiều cuốn  sách như thế này để ấn tống trong chùa. Tôi thấy mẹ tôi đi chùa về hay  đem về một vài cuốn sách hoặc có khi là kinh hoặc là chú, tôi do tò mò  cầm lên nhìn cái bìa rồi lật vô trong lướt qua vài trang rồi trả lại cho  mẹ. Tôi biết mẹ tôi thỉnh thoảng đọc một vài cuốn trong số đó rồi gửi  hết  về chùa ở quê.  Tuy nhiên, với những cuốn sách đại loại như cuốn  “Vì sao tin Phật?”, nếu được đem in và phân phát đại trà thì tôi tin  rằng sẽ có rất nhiều người đọc và sẽ truyền cảm hứng đến cho không biết  bao nhiêu người trẻ vô thần như tôi, bao nhiêu thế hệ “sồn sồn” cỡ như  ba tôi và có lẽ cả những thế hệ thuộc hàng cha chú của ba tôi nữa. Những  người này chắc chắn sẽ tìm đến với đạo Phật vì niềm cảm xúc do thấy  được ánh sáng trí tuệ và chân lý của giáo pháp tối thượng của Đức Phật  chứ không phải đến với đạo Phật như một thứ tôn giáo để cầu xin.</p>
<p>Ý  muốn tu tập khởi lên trong tôi từ đó. Tôi thích tu thiền, tôi rất ấn  tượng với hình ảnh các thiền sinh ngồi bất động, lưng thẳng, vẽ mặt thư  giãn toát ra một sự an lạc của nội tâm. Vả lại, thiền mang tính thời đại  và khoa học ( mặc dù thiền (định) đã xuất hiện trước cả thời Đức Phật  Thích Ca). Chẳng phải các báo Thanh Niên, Tuổi trẻ … thỉnh thoảng có  đăng những mẫu tin hoặc bài cho thấy các nhà khoa học nước ngoài qua  nghiên cứu đã chứng minh được công dụng của thiền trong việc chữa trị  một số căn bệnh như AIDS, tim mạch, huyết áp, thần kinh… và ngay cả  trong cai nghiện ma túy hay sao, nhưng ngặt nỗi tôi không có thời gian  do đi là về phải phụ mẹ làm việc nhà. Muốn tu thiền nghe nói phải lên  chùa thường xuyên để học, phải có thầy hướng dẫn chứ không thì sẽ bị  “lạc”, hoặc là “tẩu hỏa nhập ma” hoặc là bị “điên”,  vì vậy mặc dù tài  liệu về tu thiền cũng khá nhiều nhưng tôi không dám dựa  theo tài liệu  để tự tu.</p>
<p>Mẹ tôi nói hay tu tịnh độ đi, niệm Phật dễ lắm, không  cần thầy, đi, đứng, nằm, ngồi gì niệm cũng được, chết còn được sanh về  Cực lạc. Tôi lắc đầu, tôi  nghe mẹ  tôi và mấy bà bạn đồng tu mỗi lần  gặp nhau là cứ than cõi Ta Bà này chán lắm toàn là phiền não, dứt khoát  phải tu để lên Cực Lạc. Cõi ấy theo như mẹ tôi nói thì đất bằng vàng,  lầu gác bằng lưu ly, xa cừ, mã não, muốn ăn đồ ăn hiện ra cho ăn, muốn  mặc thì áo quần hiện ra cho mặc… đối với tôi, thú thật, điều ấy nghe  cũng kỳ dị như khi nghe con nhỏ bạn theo đạo Thiên chúa nói rằng Chúa  lấy đất sét nhào nặn thành hình người, rồi thổi một hơi để biến cục đất  sét thành ông Adam, rồi lấy một cái xương sườn của ông Adam biến nó  thành bà Eva.</p>
<p>Vả lại, nếu cõi Cực lạc có thật thì cũng không  phải là cái đích mà tôi muốn tìm đến, cuộc sống của tôi ở cõi Ta Bà này  cho dẫu có buồn, có vui, hạnh phúc và đau khổ đan xen lẫn nhau nhưng vẫn  ổn, tôi còn có những dự án, còn có tương lai dài trước mắt với những  buổi tiệc tùng và vui chơi với bạn bè. Tận hưởng những niềm vui qua  những gì mà thế giới thực tại mình đang sống đây có thể đem lại cho mình  chẳng tốt hơn là cho nó là một thứ gì đáng chán ghét và cứ mong ngóng  tới một cái thế giới được tin  là hết sức tốt đẹp sau khi chết sao?</p>
<p>Tôi  thích quan niệm của thầy Nhất Hạnh, tu là làm sao để chuyển hóa cái tâm  để có thể có được hạnh phúc (cực lạc) ngay trong hiện tại. Một thế giới  Cực lạc sau khi chết phỏng có ich gì nếu trong kiếp sống hiện tại này  ta chẳng tự có thể bằng lòng với chính mình, cứ vướng mắc trong cái vòng  oan trái, phiền não và sầu khổ tạo ra bởi tham, sân và si?</p>
<p>Tôi  quyết định niệm Phật, nhưng niệm danh hiệu của Đức Phật Thích Ca. Niệm  Phật đối với tôi là một phương tiện để xả bỏ bớt tham, sân, si và có thể  giữ chánh niệm mà đi khi chết (việc này chỉ là phòng hờ thôi vì tôi it  khi nghĩ tới cái chết lắm!) Thế giới nào tôi đến sau khi chết cũng được,  miễn là tôi luôn được sinh ra trong một gia đình có chánh kiến để tôi  có thể tiếp tục con đường tu tập của mình. Nguyện đời đời kiếp kiếp sẽ  mãi mãi là một phật tử, chỉ vậy thôi.</p>
<p>Chín chữ “Nam mô Bổn sư  Thích Ca Mâu Ni Phật” như suối nguồn tươi mát tưới tẩm tâm của tôi và đã  tạo một biến chuyển vô cùng lớn đối với cuộc đời tôi. Mỗi khi tôi vui  tôi chẳng nhớ tới Đức Phật, nhưng những lúc tôi muộn phiền, sân hận hoặc  tâm mình chạy theo những ước muốn, khao khát, tham vọng mà mình khó  thực hiện được,  tôi luôn tìm một góc thật yên, ngồi và tưởng niệm đến  Ngài. Vẽ mặt trầm tĩnh, từ bi với nụ cười tỏa ngời sự tự tại  của Ngài  hiện ra trước mắt tôi, tôi nghĩ đến những phẩm hạnh cao quý của Ngài   thế là mọi phiền não, sân hận lắng xuống.  Cứ từ từ từng chút một như  thế, tôi chặt dần từng chiếc rễ tham, sân, si và càng thấy cuộc sống mỗi  ngày một nhẹ nhàng hơn cho đến khi ra hoàn toàn tâm đắc với cái lý của  thầy Nhất Hạnh: Tu tập là tìm một cõi cực lạc ngay trong giây phút hiện  tại chứ không phải là để “đầu tư” cho một thế giới cực lạc trong tương  lai hoặc sau khi chết. Nhỏ em kế tôi cũng theo tôi niệm Phật Thích Ca và  chúng tôi lập thành một đạo tràng nhỏ tại nhà. Mẹ tôi cười, “Bọn trẻ  tụi bây chỉ thích làm chuyện khác người!” Ai hỏi tôi tu gì, tôi nói tôi  tu niệm Phật, nhưng luôn luôn nhấn mạnh :”Tôi niệm Phật Thích Ca”, tôi  rất tự hào và hãnh diện khi tự coi mình như là một “fan” của Đức Phật  Thích Ca.</p>
<p>Rút từ kinh nghiệm của bản thân tôi, tôi thấy rằng  pháp môn niệm Phật sẽ lôi cuốn được nhiều người hơn nếu tổ chức những  đạo tràng niệm Phật Thích Ca song song với những đạo tràng niệm A Di Đà  vì nó đáp ứng được như cầu tâm linh của những người muốn tu nhưng không  muốn vãng sanh như tôi. Đâu phải ai là người cũng dễ tin và có đức tin  sâu để tin vào một thế giới mà mình không hề thấy. Thực sự, ngày nay,  giới khoa học vừa mới phát hiện ra rằng những người có đức tin sâu là  những người có “gien”, mà đã là có “gien” thì tỳ lệ số người này (so với  tổng dân số) là đương nhiên không có nhiều, trong khi những người thuộc  loại vô thần như tôi càng ngày càng tăng. Các bạn không tin ư? Bạn  không thấy người dân Tây Phương càng ngày càng bỏ đi nhà thờ sao và rất  nhiều nhà thờ phải bán cho Phật giáo để xây dựng các trung tâm Phật  giáo, chùa và thiền viện đó sao?</p>
<p>Niệm Phật Thích Ca, ngoài việc  thích hợp cho những phật tử vẫn còn  “ơ hờ” với đạo Phật vì lý do như  tôi trước đây, sẽ rất thích hợp cho các em học sinh nếu các em không  quen ngồi thiền. Niệm Phật, được xem như là một phương pháp giúp các em  phát triển khả năng định tâm trong học tập, kết hợp với những buổi giáo  lý để truyền giảng dạy cho các em về cuộc đời của Đức Phật, nhân cách  cao quý và giáo pháp cao thượng của Ngài, sẽ là một luồng gió lành và  mát mẽ tưới tẩm tâm hồn các em. Đảm bảo rằng, qua sự hướng dẫn tu tập  như vậy, Phật pháp sẽ đi vào tâm hồn của các em và bám rễ chắc chắn  trong ấy. Thấm nhuần giáo lý của Đức Phật, các em lớn lên và trở thành  người có trách nhiệm với gia đình và hữu ích cho xã hội vì chẳng phải  giáo lý của Đức Phật dạy toàn những điều hay, lẽ phải đó sao?<br />
(Viết theo lời kể của Hoàng Yến)<br />
Để kính tri ân  Đức Phật, đấng cha lành, vị thầy cao cả nhân ngày khánh đản.</p>
<p>TÌM HIỂU ĐẠO PHẬT &#8211; SỐNG ĐỜI THANH THẢN Theo PTVN<br />
<strong>Pháp Âm Đạo Phật</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/toi-niem-phat-thich-ca/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tượng Đạt Ma Sư Tổ tại chùa Quảng Đức cây số 22 Đăklăk</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/tuong-dat-ma-su-to-chua-quang-duc-daklak/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/tuong-dat-ma-su-to-chua-quang-duc-daklak/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 20 Aug 2012 03:08:41 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=688</guid>
		<description><![CDATA[]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">
<div id="attachment_679" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to10.jpg"><img class="size-full wp-image-679" title="dat-ma-su-to10" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to10.jpg" alt="" width="600" height="956" /></a><p class="wp-caption-text">Tuong Dat Ma Su To</p></div>
<div id="attachment_678" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to9.jpg"><img class="size-full wp-image-678" title="dat-ma-su-to9" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to9.jpg" alt="" width="600" height="1002" /></a><p class="wp-caption-text">Tuong Dat Ma Su To</p></div>
<div id="attachment_677" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to8.jpg"><img class="size-full wp-image-677" title="dat-ma-su-to8" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to8.jpg" alt="" width="600" height="962" /></a><p class="wp-caption-text">Tuong Dat Ma Su To</p></div>
<div id="attachment_674" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to1.jpg"><img class="size-full wp-image-674" title="dat-ma-su-to1" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to1.jpg" alt="" width="600" height="976" /></a><p class="wp-caption-text">Dat Ma Su To</p></div>
<div id="attachment_675" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to2.jpg"><img class="size-full wp-image-675" title="dat-ma-su-to2" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to2.jpg" alt="" width="600" height="971" /></a><p class="wp-caption-text">Tuong Dat Ma Su To</p></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/tuong-dat-ma-su-to-chua-quang-duc-daklak/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đọc thơ Thiền</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/doc-tho-thien/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/doc-tho-thien/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 17 Aug 2012 04:14:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=682</guid>
		<description><![CDATA[Bùi Công Thuấn Thơ ca dân tộc có một bộ phận thơ Thiền đặc sắc. Nhiều bài thơ của các Thiền sư từ thời Lý (1010-1225), Trần (1225-1400) vẫn còn được truyền tụng đến ngày nay, bởi vì nó chứa đựng vẻ đẹp tư tưởng và nghệ thuật rất riêng. Ảnh hưởng Thiền khá rõ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<p>Bùi Công Thuấn</p>
<p style="text-align: center;">
<div id="attachment_674" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to1.jpg"><img class="size-full wp-image-674" title="dat-ma-su-to1" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/08/dat-ma-su-to1.jpg" alt="" width="600" height="976" /></a><p class="wp-caption-text">Dat Ma Su To</p></div>
</div>
<div>
<div>
<p>Thơ ca dân tộc có một bộ phận thơ Thiền đặc sắc.  Nhiều bài thơ của các Thiền sư từ thời Lý (1010-1225), Trần (1225-1400)  vẫn còn được truyền tụng đến ngày nay, bởi vì nó chứa đựng vẻ đẹp tư  tưởng và nghệ thuật rất riêng. Ảnh hưởng Thiền khá rõ trong suốt tiến  trình thơ ca dân tộc. Ngày nay vẫn có những nhà thơ Việt Nam tiếp tục  tiến trình ấy. Nhưng đọc thơ Thiền không dễ, cần một cách tiếp cận khác  với cách đọc thơ thế tục. Bài viết này xin thử đề xuất một con đường đến  với thơ Thiền, thay cho cách đọc cảm tính lâu nay.</p>
<h3>I. Kệ và thơ Thiền</h3>
<p>Kệ là một hình thức văn chương nghi lễ của Phật giáo, như Kệ dâng  hương, Kệ dâng hoa, Kệ vô thường buổi sớm. Các Thiền sư thường làm kệ  “thị tịch“ để căn dặn đệ tử trước lúc qua đời. Tiểu truyện về các Thiền  sư thường có những bài kệ. Những bài kệ ấy vừa nói về giáo lý Phật vừa  chứa đựng chỗ độc đáo chứng ngộ của mỗi người. Thiền Uyển Tập Anh nổi  tiếng với những bài kệ như Thị Đệ Tử của Thiền sư Vạn Hạnh, Cáo tật Thị  chúng của đại sư Mãn Giác. Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông (1218-1277) có  Kệ ngũ giới, Kệ bốn núi&#8230;</p>
<p>Về cơ bản, Kệ dạy giáo lý Phật bằng ngôn ngữ khái niệm. Nhưng khi  chuyển thành ngôn ngữ hình tượng, Kệ trở thành thơ Thiền, ý nghĩa tư  tưởng chuyển hoá thành ý nghĩa nghệ thuật.</p>
<p>Chẳng hạn:</p>
<p><em>Bát Nhã chân vô tông<br />
Nhân không, ngã diệc không<br />
Quá, hiện, vị lai Phật<br />
Pháp tính bản lai đồng</em>(1)<br />
(Lý Thái Tông. 1028-1054)</p>
<p>Dịch:</p>
<p><em>“Bát Nhã” thực vô tông<br />
Người không, mình cũng không<br />
Phật trước, nay, sau nữa<br />
Pháp tính vốn tương đồng</em><br />
(Ngô Tất Tố dịch)</p>
<p>Bài kệ này chỉ diễn đạt giáo lý về Chân Như. Ngôn ngữ kệ là ngôn ngữ  khái niệm, không có hình tượng. Kệ của sư Vạn Hạnh đã có bước chuyển hoá  thơ.</p>
<p>Ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018) sư không bệnh, gọi đệ tử đến đọc bài kệ:</p>
<p><em>Thân như điện ảnh hữu hoàn vô<br />
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô<br />
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý<br />
Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi</em>(1)<br />
(Vạn Hạnh Thiền sư)</p>
<p>Sư lại bảo các đệ tử: &#8211; Các ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ  mà trụ, cũng chẳng dựa chỗ vô trụ mà trụ. Một lát sau sư qua đời.</p>
<p>Lời của Thiền sư Mugaku nói với quân Mông Cổ (xem mục IV.2 dưới đây) có cả chất kệ và chất thơ.</p>
<h3>II. Một cách tiếp cận thơ Thiền</h3>
<p>Thơ Thiền là thơ tư tưởng. Cốt lõi tư tưởng thơ Thiền là giáo lý Phật  giáo. Vì thế muốn tiếp cận thơ Thiền, người đọc phải ít nhiều có được  căn bản tư tưởng Phật. Không có tri thức này thì không thể cảm thụ thơ  Thiền, vì mỗi bài thơ là một chứng ngộ tại thế về Chân Như của Thiền sư.</p>
<p>Căn bản giáo lý Phật Giáo(3) là Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên, Bát  Chánh Đạo, và thuyết vô ngã. Giáo lý này được Đức Phật giảng dạy ngay  sau khi Người thành đạo.</p>
<p>Tứ Diệu Đế là bốn chân lý cao cả do Phật đã tìm ra. Đó là Khổ  (dukkha), Tập (Samudaya), Diệt (Nirodha), Ðạo (Magga). Bản chất của cuộc  sống là khổ là bất toàn, vô thường, trống rỗng, giả tạm. Sinh, lão,  bệnh, tử, ngũ uẩn là khổ. Nguyên nhân của khổ là khát ái, là dục vọng,  là ý chí muốn sống, muốn tồn tại, muốn tái sinh, muốn trở thành, muốn  tăng trưởng, muốn tích lũy không ngừng. Bao lâu còn khát ái trở thành,  thì sinh tử luân hồi vẫn tiếp tục. Muốn tận diệt khổ người ta phải diệt  cội gốc chính của khổ là dục vọng, diệt tham, diệt sân, diệt si. Chấm  dứt khổ là Niết Bàn. Niết-bàn là Chân lý tuyệt đối hay Thực tại tối hậu.  Phật nói : “Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Đó  là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái  dục.“ Niết-bàn có thể thực hiện ngay trong cõi đời này. Để đạt tới Niết  bàn con người phải tu tập theo Bát Chánh Đạo. Ấy là Chánh kiến (thấy  đúng), Chánh tư duy (nghĩ đúng),Chánh ngữ (nói đúng), Chánh nghiệp (làm  đúng), Chánh mạng (sống đúng), Chánh tinh tiến (siêng năng đúng), Chánh  niệm (nhớ đúng), Chánh định (tâm an trụ).</p>
<p>Phật giáo còn nói đến luật nhân quả và nghiệp báo. Trên đường tái  sanh luân hồi, con người chịu ảnh hưởng của nghiệp. Vô minh và Ái dục là  nguyên nhân chính tạo ra Nghiệp. Chính Vô Minh và Ái Dục là cội rễ của  mọi tội ác. Nghiệp và Quả đều tùy thuộc nơi Tâm. Hành động (Nghiệp) và  hậu quả của hành động ấy (Quả) đều do Tâm tạo nên. Mục tiêu tối hậu của  người Phật tử là tận diệt Nghiệp. Trong bộ Samyutta Nikaya, Tập A Hàm,  có những lời dạy :<em> “Hãy gieo giống tốt, Ta sẽ hưởng quả lành.”</em></p>
<p>Thuyết Vô Ngã(4) cho rằng ý tưởng về một bản thể trường cửu bất diệt,  gọi là Tôi, Ngã, cái Ta, hay Linh hồn, chỉ là một niềm tin sai lạc. Cái  mà ta gọi là Tôi hay Ngã chỉ là một kết hợp của các uẩn vật lý và tâm  linh, hoạt động tương quan mật thiết lẫn nhau trong một dòng biến chuyển  từng sát na, chịu chi phối của luật nhân quả. Tất cả đều vô thường.  Phật giáo phủ nhận hiện hữu của Ngã, linh hồn, thượng đế. Sự sống đã  phát sinh, tồn tại và tiếp diễn là do mười hai nhân duyên : đó là Vô  minh, nghiệp, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh,  Lão, Tử(5). Nếu đảo ngược công thức lại, ta sẽ đi đến sự chấm dứt của  quá trình. Vô minh diệt thì Nghiệp diệt, Nghiệp diệt thì thức diệt, thức  diệt thì danh sắc diệt,.. cho đến khi sinh lão, tử, ưu bi khổ não&#8230;  diệt.</p>
<p>Đọc thơ Thiền, người đọc sẽ nhận ra những tư tưởng căn bản trên nơi  sự chứng ngộ của các Thiền sư. Vì thế thơ Thiền trước hết là thơ tư  tưởng, không phải là thơ kiểu thơ phản ánh hiện thực hay thơ giãi bày  tâm trạng.</p>
<h3>Thiền Tông</h3>
<p>(6)</p>
<p>Thơ Thiền thể hiện tư tưởng Phật giáo nhưng có những đặc sắc riêng  của Thiền. Thiền là đạo giác ngộ hình thành qua kiến giải Trung Hoa, là  cách tu chứng khác với Phật giáo Ấn Độ.</p>
<p>Thiền khởi từ Thiền thoại : <em>“Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu”</em>,  nghĩa là Phật giơ lên cành hoa, Ca Diếp nhìn cành hoa và mỉm cười. Ca  Diếp đốn ngộ tâm truyền, trực tiếp từ hành động của Phật, không qua kinh  điển. Phật phó chúc Thiền cho Ca Diếp, và từ Ca Diếp tâm ấn Phật được  tiếp tục truyền thừa đến tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền Trung  Hoa. Bồ Đề Đạt Ma (?-528) sang Trung Quốc vào năm 520, mang theo một  thông điệp, được coi là tôn chỉ của Thiền :</p>
<p><em>Giáo ngoại biệt truyền<br />
Bất lập văn tự<br />
Trực chỉ nhân tâm<br />
Kiến tánh thành Phật</em></p>
<p>(Truyền riêng ngoài giáo / Chẳng lập văn tự / Trỏ thẳng tâm người / Thấy tánh thành Phật).</p>
<p>Thiền đặt nặng lý Giác Ngộ. Tu chứng theo Thiền là nỗ lực tự chứng,  nỗ lực tự mình, trong nội tâm mình, để ”Kiến tánh thành Phật”. Phương  pháp của Thiền là không dùng văn tự, mà tác động trực tiếp vào tâm. Bởi  vì ”Tâm tức Phật / Phật tức tâm“. Vô Minh, Nghiệp quả, Ái dục cũng do  tâm. Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên hoặc giáo lý Vô Ngã chỉ là người  hướng đạo trí thức vạch ra con đường thực hiện sinh hoạt Phật giáo. Vì  thế Thiền tập trung vào Phát tâm, an trú tâm và hàng phục tâm.</p>
<p>Hai bộ kinh quan trọng của Thiền là kinh Lăng Già (Lankavatara-Sutra) và kinh Kim Cang(7).</p>
<p>Kinh Lăng Già có thuyết “Như Lai tạng” ảnh hưởng đến toàn bộ Thiền  tông. Như Lai tạng là “: Tất cả chúng sinh đều tàng chứa Như Lai, tức là  Phật tính. Phật tính bị khách trần che phủ nên phải tu tập bích quán để  trừ dứt khách trần cho Phật tính thanh tịnh hiển lộ. Kinh Lăng Già chú  trọng ở sự ngộ lý, nội chứng, rời bỏ ngôn thuyết, văn tự, vọng tưởng,  nhấn mạnh tự tu, tự ngộ, tự chứng để đạt tới cảnh giới “tự giác thánh  trí“.</p>
<p>Ý tưởng nền tảng của kinh Kim Cang là giáo lý về Tính KHÔNG (8). Tất  cả vạn hữu đang hiện hữu, tự tính của nó là Không. Ý niệm Không không  phải là hư vô, mà là trạng thái vượt qua nhị nguyên tử &#8211; sinh, vượt qua  hữu &#8211; vô, vuợt qua sắc tướng. Đó là thể tính chân như của hiện hữu, là  Như Lai. Thực tướng ấy không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng không thể  dùng ý niệm để ý niệm, thấy Như Lai là thấy “thực tại vô tướng”.</p>
<p>Người làm thơ Thiền có khi thể hiện cái nhìn của kinh Hoa Nghiêm.  Dưới mắt người hành đạo theo tinh thần Hoa Nghiêm, con ong, cái kiến cho  đến cọng cỏ, bụi gai, không cái gì mà không dễ thương, tất cả đều là  Phật, tất cả pháp, kể cả sơn hà đại địa đều nhận lực chi phối của huệ  Như Lai, đều là Pháp thân Phật. (9)</p>
<h3>III.Thi pháp thơ Thiền</h3>
<p>Thơ Thiền được làm theo những nguyên tắc nhất định, có thể gọi là thi  pháp. Thực ra không có hẳn một trường phái thơ Thiền, vì thế cũng không  hề có lý luận về thi pháp thơ Thiền. Tuy nhiên, khi đọc thơ Thiền,  người đọc có thể nhận ra một vài đặc trưng trong phép làm những bài kệ &#8211;  thơ Thiền của các Thiền sư.</p>
<p>1. Thơ Thiền là kinh nghiệm tu chứng của Thiền sư, là thời khắc sáng  loà của tâm thanh tịnh, an nhiên, đạt tới thực tại vô tướng, thể tính  chân như của hiện hữu. Ánh sáng của sự chứng ngộ ấy tạo nên cái đẹp thơ.</p>
<p>2. Thơ Thiền được viết bằng kiểu ngôn ngữ vô ngôn, xuất phát từ cách  sử dụng ngôn ngữ của các Thiền sư. Đối với Thiền, ngôn ngữ được xem là  lừa dối và sai lạc để thấu hiểu chân lý. Kinh Lăng Già khẩn thiết bảo ta  rằng ngôn ngữ là một phương tiện hoàn toàn thiếu thích đáng để diễn đạt  và truyền đạt nội thể của Giác Ngộ. Kinh Kim Cang viết <em>“Vô pháp khả thuyết thị danh thuyết pháp”</em> (thuyết pháp là : không có pháp nào có thể thuyết ấy là thuyết pháp).  Thực tại vô tướng, thể tính chơn như không thể diễn tả bằng ngôn ngữ,  hay bằng ý niệm.</p>
<p>Vì thế đọc thơ Thiền, người đọc phải tìm ra cách nói của tác giả, nắm  lấy diệu lý Thiền, vượt qua ngôn ngữ. Các Thiền sư phải trải qua vô số  thử thách ê chề mới đạt tới được tuyệt kỹ này. Cách nói vô ngôn có thể  gói trong những thí dụ sau (10) : 1. Nói nghịch, 2. Nói vượt qua, 3. Nói  chối bỏ, 4. Nói quyết, 5. Nói nhại, 6. Hét, 7. Phép im lặng, 8. Lý luận  vòng tròn.</p>
<p><img src="http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L8xH11/puce-32883.gif" alt="-" width="8" height="11" /> Nói nghịch là cách nóí nghịch lý. Phó Đại Sĩ nói :</p>
<p><em>Tay không: nắm cán mai<br />
Đi bộ: lưng trâu ngồi<br />
Theo cầu qua bến nước<br />
Cầu trôi nước chẳng trôi.</em></p>
<p><img src="http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L8xH11/puce-32883.gif" alt="-" width="8" height="11" /> Nói vượt qua là cách nói thoát khỏi nhị nguyên khẳng định và phủ định.</p>
<p><img src="http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L8xH11/puce-32883.gif" alt="-" width="8" height="11" /> Nói chối bỏ là cùng một người, và cùng một câu hỏi, lúc nói “có”, lúc nói “ không”.</p>
<p><img src="http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L8xH11/puce-32883.gif" alt="-" width="8" height="11" /> Nói quyết là cách nói lạc đề:</p>
<p><em>Một ông tăng hỏi Thiền sư Hoa Sơn (?): “Thế nào là Phật”. Sư đáp : “Tôi biết đánh trống, tum đùng đùng”.</em></p>
<p>Nếu hiểu vạn pháp (mọi hiện hữu) đều có Phật Tính, và Phật tính hiện  trong vạn pháp, thì dù trả lời lạc đề thế nào, hình ảnh trong câu trả  lời vẫn dẫn đến Như lai.</p>
<p><img src="http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L8xH11/puce-32883.gif" alt="-" width="8" height="11" /> Nói nhại là nhại lại câu hỏi của người hỏi:</p>
<p><em>Một ông tăng hỏi Trường Sa: “Làm sao chuyển non sông đất nước trở  về cái tự kỷ?”  Sư đáp : “Làm sao chuyển cái tự kỷ thành non sông đất  nước?”</em></p>
<p>Đối với các Thiền sư, lời nói, ngôn ngữ là một thứ tiếng la, tiếng,  kêu thoát ra từ sự thân chứng nội tại; nó vô nghĩa, vì thế muốn hiểu  Thiền phải tự hiểu chính ta, không phải hiểu nghĩa của ngôn ngữ phản  chiếu những ý niệm. Thiền không thể nói được cho những người chưa có tự  chứng.</p>
<p>3. Thơ Thiền sử dụng một số diễn tả đã thành “điển“ của Phật giáo,  như điển hoá Thiền thoại; diễn tả cái Có và cái Không nhị nguyên bằng  những chữ như sát (giết chết) và hoạt (cho sống), đoạt (cướp lấy) và dữ  (ban cho), xúc (khẳng định) và bối (phủ định), bằng từ vựng Phật giáo  như khổ, dục, vô thường, vô ngã, tâm, an nhiên thanh tịnh v.v&#8230;</p>
<p>Ta gặp hình ảnh diễn tả tư tưởng Phật quen thuộc như : Tất cả các  pháp là hữu vi, đều giống như sao đêm (tinh), như mắt loạn (Ế), như ngọn  đèn (đăng), như huyễn thuật (ảo), như sương mai (lộ), như bọt nước  (bào), như cơn mộng (mộng), như ánh chớp (điện), như đám mây nổi (vân).</p>
<p><em>Thân như điện ảnh hữu hoàn vô<br />
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô<br />
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý<br />
Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi</em><br />
(Vạn Hạnh Thiền sư)</p>
<p>Hoặc:</p>
<p><em>Hết thảy pháp hữu vi<br />
Như chiêm bao, huyễn thuật,<br />
Như bọt nước, ảo ảnh,<br />
Như sương mai, điện chớp,<br />
Hãy quán chiếu như vậy.</em><br />
(bài kệ trong kinh Kim Cang)</p>
<p>Những hình ảnh quen thuốc ấy có nghĩa riêng của giáo lý Phật. Tinh tú  biểu tượng cho cái thấy. Mắt bệnh là ví dụ cho tướng của đối tượng.  Ngọn đèn là thức uẩn. Huyễn thuật là cư xứ, chỉ khí thế gian, Sương mai  là ví dụ cho thân thể. Bọt nước là thọ dụng. Chiêm bao là thời gian quá  khứ. Điện chớp là thời gian hiện tại. Vầng mây là thời gian vị lai.</p>
<p>4. Một bài thơ Thiền có thể có hai lớp nghĩa. Lớp nghĩa tư tưởng,  diễn tả sự chứng ngộ của tác giả về Chân Như, và lớp nghĩa nghệ thuật,  do hệ thống hình tượng thơ gợi ra. Lớp nghĩa này được hiểu theo cách  hiểu của cộng đồng, bằng tri thức, văn hoá thẩm mỹ của cộng đồng. Hai  lớp nghĩa này có khi đồng nhất, có khi là riêng biệt, tuỳ theo cách sử  dụng kiểu ngôn ngữ của Thiền sư. Nếu ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ dạy đệ tử,  lời dạy trực tiếp cho người chưa chứng ngộ, đó là kiểu ngôn ngữ đời  thường, hai lớp nghĩa này thường đồng nhất. Nếu Thiền sư biểu lộ sự  chứng ngộ, thì đó là kiều ngôn ngữ vô ngôn, là tiếng kêu vô nghĩa. Lúc  ấy, nghĩa tư tưởng và nghĩa nghệ thụật là tách biệt, có khi không có  quan hệ gì với nhau. Vì thế những cách đọc bằng phương pháp truyền  thống, phân tích nhân vật trữ tình, phương pháp Tiểu Sử, Phân Tâm Học,  Phản ánh Luận, Cấu Trúc Luận … đôi khi bất lực trong việc giải mã thơ  Thiền</p>
<h3>IV Thử đọc một vài bài thơ Thiền</h3>
<p><strong>1. Thiền sư Không Lộ (?-1119)</strong></p>
<p><em>Trạch đắc long xà địa khả cư<br />
Dã tình chung nhật lạc vô dư<br />
Hữu thì trực thướng cô phong đỉnh<br />
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.</em></p>
<p>Dịch:</p>
<p><em>Kiểu đất long xà chọn được nơi<br />
Tình quê lai láng chẳng hề vơi<br />
Có khi xông thẳng lên đầu núi<br />
Một tiếng kêu vang, lạnh cả trời</em><br />
(Kiều Thu Hoạch dịch)</p>
<p>Hai câu đầu là trạng thái an lạc của Thiền giả. Chọn được đất rồng  rắn có thể ở được. Tình quê vui vẻ (lạc) suốt ngày, không gì hơn. An  nhiên, không vướng mắc sự đời, đó là trạng thái “Ưng vô sở trú”. Sự vật  (long xà địa), con người (tác giả), thời gian (chung nhật) cùng hợp  nhất. Lời thơ như là kể, là tự nói chuyện với chính mình, vì thế câu thơ  không có chủ thể trực tiếp cho hành động “trạch đắc” (chọn được), hành  động “cư” (ở), và trạng thái “lạc vô dư” (an vui không gì hơn). Nếu tứ  thơ tiếp tục phát triển theo hướng miêu tả cuộc sống nhàn nhã thảnh  thơi, thì chưa hẳn đã là thơ Thiền, bởi an vi, “vô vi” cũng là cách sống  của nhà Nho xưa, bài thơ sẽ trở thành thơ Nhàn của nhà Nho.</p>
<p>Hai câu sau là phút toả sáng sự chứng ngộ. Có lúc lên thẳng ngọn núi  trơ trọi. Kêu một tiếng dài lạnh cả thái hư. Chứng ngộ Thiền là tự  chứng, tự nội tâm mình, đơn độc. Người tu Thiền phải chiến đấu quyết  liệt với chính mình, như người leo núi đơn độc. Núi ở đây có thể hiểu  theo cách Trần Thái Tông nói về “bốn núi“ : sinh, lão, bệnh, tử. Núi  chính là ngũ uẩn, là vô minh, là nghiệp, là sắc tướng vô thường mà người  tu Thiền phải vượt qua để đạt đến Ngã Không, đạt đến tự tánh. Theo Tổ  Huệ Năng(11), tu Thiền là nỗ lực <em>“kiến tánh thành Phật</em>”. Chứng  ngộ là thấy được tự tánh. Con người, vũ trụ là một, “tất cả tức một, một  tức tất cả”. Con người có uy lực của vũ trụ. Bởi vì tự tánh bao hàm  toàn thể vũ trụ, tự do tự tại, đầy sinh lực sáng tạo, mà đồng thời cùng  tự tri tự giác. Vì thế Không Lộ Thiền sư kêu một tiếng dài làm cả thái  hư lạnh lẽo. Đó là cách nói biểu hiện sự chứng ngộ.</p>
<p>Trong thực tế sẽ chẳng có ai lên thẳng đỉnh núi cô độc, ở đó một mình  với chính mình, kêu dài một tiếng làm lạnh cả thái hư. Tại sao hai câu  đầu là tâm an lạc mà hai câu sau lại là trạng thái cô độc tuyệt đối:  đỉnh núi cô độc và con người cô độc trên đỉnh núi ? Tại sao con người  không ở yên trong an lạc mà lại lên thẳng đỉnh núi cô độc kêu lên một  tiếng dài, tiếng kêu tan vào thái hư? Rõ ràng là hai tình huống ngôn ngữ  không logic với nhau, thậm chí tương phản nhau. Người đọc nhận ra kiểu  ngôn ngữ vô ngôn, trong cách nói quyết. Tứ thơ là những hình ảnh vô  nghĩa. Nó chỉ là tiếng kêu từ tâm chứng ngộ. Ngôn ngữ không phản ánh  hiện thực hay phản ánh con người nhà thơ..</p>
<p>Để hiểu hình ảnh núi, xin đọc bài kệ của thiền sư Ranryô(12):</p>
<p><em>Thiền định và trì niệm<br />
Như hai toà núi lớn<br />
Căn cơ người sai khác<br />
Phật tánh vốn chung đồng<br />
Kẻ lên được tận đỉnh<br />
Thấy trăng chiếu muôn nơi<br />
Thương người thiếu tín tâm<br />
Mờ mịt giữa dốc ghềnh</em></p>
<p>Ranryô giúp ta hiểu <em>“kẻ lên tận đỉnh núi”</em> của Không Lộ Thiền sư là <em>“đỉnh núi của thiền định và trì niệm”,</em> con đường dẫn đến giác ngộ. Đạt tới đỉnh núi là đạt tới chứng ngộ.</p>
<p>Bằng cách đọc theo phản ánh luận, kết hợp với việc phân tích nhân vật  trữ tình, và “tán“ thơ, có người hiểu hai câu thơ của Không Lộ Thiền Sư  thế này(13):</p>
<p><em>“Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng<br />
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời”</em></p>
<p>Hai câu thơ cao khiết mà cô đơn lạ! Cái ý tưởng nào mà chợt đến, chợt  đi (có lúc), mà táo bạo (trèo lên thẳng) với tâm thế hết sức cô đơn  (đỉnh núi trơ trọi). Tiếng kêu ấy thảng thốt biết bao làm cho cả bầu  trời rùng mình, ớn lạnh. Phải chăng đây là khát vọng vươn tới cái cao  cả, cái nằm ngoài giới hạn của con người ? Phải chăng đây cũng là ước mơ  cháy bỏng hoà đồng với thiên nhiên, ngang tầm với vũ trụ? Dù sao thì  hai câu thơ tự chắp cánh cho mình, một thời đã làm run lạnh cả bầu trời  ấy, đến nay vẫn làm chúng ta giật mình ngơ ngác. Vì nó lớn lao quá mà  rất đỗi thiết tha. Nó rất “con người”. (tôi xin không có lời bình về  cách hiểu này)</p>
<p>Cái hay của bài thơ này là gì? là sự thể hiện tư tưởng Phật hay ở hình tượng và nghệ thuật thơ ?</p>
<p>Có thể thấy rằng, cái hay của bài thơ thể hiện ở tính độc đáo trong  cách diễn tả sự chứng ngộ Phật và ở hình tượng thơ mới lạ. Ở Thiền, sự  chứng ngộ của mỗi Thiền sư là sự chứng ngô riêng, độc đáo và đột khởi,  đốn ngộ. Không Lộ Thiền sư cũng chứng ngộ như thế: lên thẳng đỉnh núi cô  độc, kêu dài một tiếng làm lạnh thái hư. Đó là ý nghĩa tư tưởng. Ý  nghĩa nghệ thuật của hình tượng thơ lại đem đến cho người đọc những mỹ  cảm khác. Đó là vẻ đẹp tâm hồn dung dị của nhà thơ hoà mình trong đời  sống dân dã, đằm thắm trong cái tình quê suốt ngày vui không gì hơn.  Hình ảnh nhà thơ có lúc đã từng lên thẳng đỉnh núi cô độc, kêu một tiếng  dài, âm vang làm lạnh thái hư. (Những người ở rừng ở núi thường dùng  tiếng kêu dài, hú dài để gọi nhau) Có lẽ nhà thơ đã khám phá ra sức mạnh  của chính mình trong thiên nhiên và trong thái hư (vũ trụ). Bài thơ gợi  ra hình ảnh một Thiền sư ở giữa cuộc sống, giữa thiên nhiên, vừa ung  dung giản dị, vừa mạnh mẽ phi thường, vượt lên tất cả, hoà nhập tất cả, <em>“tất cả tức một, một tức tất cả”</em>.</p>
<p><strong>2. Thiền sư Mugaku</strong>(14) là người sáng lập Thiền Tông  Nhật Bản. Sư sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc, ngộ Thiền từ 12 tuổi. Năm  1275 quân Mông Cổ tràn vào Trung Quốc. Mugaku lúc ấy đã xuất gia, di tản  khỏi chùa. Một năm sau chiến sự lại tràn đến, sư ở lại chuà. Khi ấy  Mugaku đang tĩnh toạ tại chánh điện, quân Mông Cổ tràn vào. Chúng kề  gươm vào cổ ngài mà uy hiếp. Ngài điềm nhiên đọc một bài kệ, quân Mông  Cổ hạ gươm rồi rút lui. Bài kệ như sau:</p>
<p><em>Gom toàn thể thế giới<br />
Chẳng vừa một đầu gậy<br />
Vạn pháp vẫn là không<br />
Vô thường và vô ngã<br />
Lưỡi gươm bọn Hung Nô<br />
Lấp loáng cắt xuân phong</em></p>
<p>Trước hết bài kệ là cách sư Mugaku trả lời cho sự uy hiếp của quân  Mông Cổ. Chúng lấy cái chết để đe doạ Thiền sư. Ngài nóí : toàn thể thế  giới là quá nhỏ, gom toàn thế thế giới chẳng vừa một đầu gậy. Mọi hiện  hữu (vạn pháp) đều là Không, vậy sự hiện hữu của Ngài là vô ngã, nào có  nghĩa gì. Nếu lưỡi gươm tàn bạo của quân Mông có lấp loáng, cũng chì là  cắt vào gió xuân, cắt vào Không. Lời của sư chỉ ra rằng, sức mạnh vật  chất tàn bạo của quân Mông Cổ, dù có chém đầu ngài, cũng chỉ là vô  nghĩa. Vì chúng là Không, và chúng đối diện với Không. Nội dung tư tưởng  của bài kệ là triết lý tính Không về bản thể của hiện hữu vô thường vô  ngã của Phật.</p>
<p>Cái hay của bài kệ là ở chỗ Thiền sư đã làm hiển lộ sức mạnh, uy lực  của sự chứng ngộ, con người, vũ trụ là một, tự do, đầy sinh lực sáng  tạo. Đối diện với sức mạnh ấy, quân Mông Cổ phải buông gươm.</p>
<p>Nhưng bài kệ còn hay ở hình tượng thơ được nhà sư dụng để thể hiện tư  tưởng Phật. Nó vừa tạo ra cái thẩm mỹ, vừa bộc lộ trình độ giác ngộ và  uy lực của tác giả</p>
<p><em>Gom toàn thể thế giới<br />
Chẳng vừa một đầu gậy</em></p>
<p>Cả thế giới gom lại chẳng vừa một đầu gậy, con người này có tầm vóc,  uy lực lớn lao mạnh mẽ đến thế nào! Con ngưới ấy có thể gom cả thế giới  lại, và cả thế giới là quá bé nhỏ trong tay con người. Một tứ thơ như  vậy quả là lạ. Nó chứa đựng sức mạnh Phật.</p>
<p><em>Lưỡi gươm bọn Hung Nô<br />
Lấp loáng cắt xuân phong</em></p>
<p>Tứ thơ cuối sáng lên một cái đẹp nghệ thuật khác: lưỡi gươm lấp loáng  cắt gió xuân. Tất cả sự tàn bạo của quân Mông Cổ trở nên vô nghĩa vì  cắt vào Không, nhưng tứ thơ có sự chuyển nghĩa, tất cả sự tàn bạo, đẫm  máu, thăng hoa thành cái đẹp <em>“lấp loáng trong gió xuân”</em>. Không  còn máu chảy, đầu rơi, tang thương, chết chóc. Sức mạnh tàn bạo của sự  chết chuyển hoá thành sức mạnh sáng láng của sự sống (mùa xuân).</p>
<p>Nghĩa tư tưởng (Thiền) và nghĩa nghệ thuật của tứ thơ có sự chuyển  hóa đột ngột, mạnh mẽ, mới lạ. Ở bài này sử dụng ngôn ngữ đời thường,  lời thơ là lời Thiền sư nói với quân Mông Cổ, vì thế nghĩa tư tưởng và  nghĩa nghệ thuật có thể trùng với nhau.</p>
<p><strong>3. Mãn Giác đại sư (1052-1096)</strong></p>
<p><em>Xuân khứ bách hoa lạc<br />
Xuân lai bách hoa khai<br />
Sự trục nhân tiền quá<br />
Lão tòng đầu thượng lai<br />
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận<br />
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.</em></p>
<p>Dịch:</p>
<p><em>Xuân ruổi, trăm hoa rụng</em></p>
<p><em> </em><em>Xuân tới, trăm hoa cười<br />
Trước mắt việc đi mãi<br />
Trên đầu già đến rồi<br />
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết<br />
Đêm qua, sân trước, một cành mai.</em><br />
(Ngô Tất Tố dịch)</p>
<p>Bốn câu đầu là hình ảnh diễn tả tính chất vô thường, vô vọng, của  hiện hữu trong không gian, thời gian. Cuộc sống luôn vận động trong nhân  duyên, có sinh thì có diệt, luân hồi mãi trong cõi sinh tử. Xuân đến  rồi xuân đi, hoa nở rồi hoa rụng. Sự việc cứ trôi đi trước mắt. Tuổi già  đến trên đầu. Bản thể của hiện hữu là vô thường, chẳng có gì tồn tại.  Con người chẳng thể níu kéo được gì, chẳng thể níu kéo tuổi xuân cho  mình.</p>
<p>Hai câu cuối là sự chuyển hoá lạ lùng, như được thốt ra từ sự chứng  ngộ. Đừng tưởng xuân tàn thì hoa rụng hết. Hoa vẫn nở đấy : Đêm qua, một  cành mai đã nở trước sân. Mãn Giác đại sư đã vượt qua vô thường, vượt  qua tử sinh, vượt qua luân hồi. Đại sư đã nhìn thấy cành mai nở trước  sân, như Ca diếp mỉm cười chứng ngộ khi nhìn thấy đức Phật giơ cành hoa  lên. Mãn Giác đại sư cũng đang mỉm cười. Cành mai ấy là cành mai tư  tưởng, sáng lên một cách lạ lùng trong bóng tối của vô thường đã lùi lại  phiá sau. Đó là ý nghĩa tư tưởng Thiền của bài kệ.</p>
<p>Đọc bài thơ này bằng phương pháp cấu trúc luận, Như Huy có những kiến  giải thú vị về ý nghĩa bài thơ, nhưng Như Huy chưa phát hiện ra sự  chứng ngộ của sư Mãn Giác(15).</p>
<p>Ở bài kệ này, ngôn ngữ là lời “thị đệ tử”, là lời dạy bảo trực tiếp,  ngôn ngữ đời thường. Nhưng lời dạy ấy được diễn tả bằng hình ảnh, tạo  nên tứ thơ, Kệ trở thành thơ. Hình tượng nghệ thuật của thơ mang đến một  ý nghĩa khác. Đó là cái nhìn thanh xuân của một người tuổi già đã đến  trên đầu. Trong cái nhìn ấy muà xuân tồn tại mãi, sự sống vẫn tươi tắn,  cái đẹp vẫn tồn tại, dù tất cả vẫn qua đi như một quy luật không cưỡng  lại được. Tứ thơ <em>“Đêm qua, sân trước, một cành mai”</em> là một tứ thơ  mới lạ cả về nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ. Nhà thơ chọn trong trăm  hoa rụng một cành mai tươi nở. Cái đẹp trong ý thức sáng tạo của nhà thơ  là cành mai, là muà xuân, là tuổi trẻ, là sự sống và một niềm tin vĩnh  cửu. Đối với người Việt Nam, cành mai luôn là hình ảnh gần gũi của mọi  nhà mỗi khi xuân về, chẳng bao giờ thiếu muà xuân trên đất nước trăm hoa  này. Điều này giúp chúng ta hiểu được tại sao bài thơ gắn kết lâu bền  trong thi ca dân tộc và trong tâm hồn người Việt như vậy.</p>
<p><strong>4. Thơ Thiền Bùi Giáng</strong></p>
<p>Thơ Bùi Giáng(16) có tư tưởng Thiền. Bùi Giáng nhận ra “tinh thể đười ươi” trong thân phận người.</p>
<p><em>Hoặc rằng người cũng là tôi<br />
Hay là tôi cũng là tôi như người<br />
Ấy rằng tinh thể đười ươi<br />
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và<br />
Ấy rằng một cũng là ba<br />
Là hai mai một mốt là hôm nay.</em></p>
<p>Trong Thiền Luận, Daisetz Teitaro Suzuki nhắc đến Thiền Thoại sau :  Khi Ngưỡng Sơn (804-899) hỏi về Phật tánh. Thiền Sư Hồng Ân giảng như  vầy: <em>“Như ngôi nhà có sáu cửa nhốt khỉ đột. Ở ngoài có người hô to  “khọt khọt”, khỉ đáp lại “khọt khọt”, cứ thế sáu cửa cùng hô cùng ứng”</em>. Ngưỡng Sơn <em>hỏi lại: “Ví như lúc ấy khỉ ngủ thì sao?”</em>. Hồng Ân bước xuống một tay nắm Ngưỡng Sơn, vừa múa vừa nói: <em>“Khỉ ơi khỉ ơi, ta với ngươi cùng đối mặt nhau đây”</em>.  Bùi Giáng thay khỉ bằng đười ươi, tạo ấn tượng mạnh hơn vì đười ươi hay  cười. Đó cũng là hình ảnh nghệ thuật Bùi Giáng tự vẽ chân dung của  chính mình.</p>
<p>Đoạn thơ trên biểu hiện tâm hồn, tính cách, kiểu nói năng rất Thiền  của Bùi Giáng. Bùi Giáng nhận ra Phật Tánh trong hình hài đười ươi của  người, của tôi. <em>“người cũng là tôi, tôi cũng là người, ấy rằng tinh thể đười ươi”</em>. Vũ trụ, thời gian là nhất thể, tự tại, không sinh diệt: <em>“một cũng là ba, là hai, là một; mai, mốt cũng là hôm nay”</em>.  Sự giác ngộ như thế là bước giác ngộ thứ nhất để dẫn đến đại ngộ. Bùi  Giáng không nhìn tha nhân như người khác mà nhìn tha nhân trong cùng một  bản thể Phật tính, không nhìn tha nhân như người của thế giới khác, vũ  trụ khác, mà nhìn tha nhân trong hiện hữu thường hằng, quá khứ &#8211; hiện  tại &#8211; tương lai &#8211; không gian &#8211; thời gian là một. Trong một tương quan  như thế, người đọc thấy Bùi Giáng an nhiên ngay trong cuộc sống thực  tại.</p>
<p>Cái hay của đoạn thơ ấy là kiểu ngôn ngữ Bùi Giáng. Ngôn ngữ như bông  đùa. Nói chuyện tư tưởng thâm sâu của sự chứng ngộ mà tếu táo chẳng đâu  ra đâu, lẫn lộn lung tung. Thực ra Bùi Giáng cố ý xáo trộn ngôn ngữ,  dùng cách nói vòng (kiểu ngôn ngữ của các Thiền sư), tạo ra sự xáo trộn  trật tư logic của ngôn ngữ đời thường, xáo trộn không gian, thời gian,  đạt tới sự diễn tả tư tưởng.</p>
<p><em>Ấy rằng một cũng là ba<br />
Là hai mai một mốt là hôm nay.</em></p>
<p>Để hiểu câu thơ này, cần sắp xếp lại ngôn từ theo logic của ngôn ngữ  đời thường. một &#8211; hai &#8211; ba (không gian) &#8211; mốt &#8211; mai &#8211; hôm nay (thời  gian), tất cả là một. Vạn pháp là một Phật tính. Phật tính hiển hiện  trong vạn pháp. Tuy nhiên đoạn thơ không phải là tâm thế đốn ngộ của Bùi  Giáng. Bùi Giáng chỉ mượn tư tưởng Thiền để thể hiện cá tính sáng tạo  của mình, một cá tính tài hoa. Vì thế thơ Bùi Giáng là thơ của một nghệ  sĩ tài hoa, khác với những bài kệ / thơ Thiền của các Thiền sư.</p>
<p><strong>5. Thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn</strong></p>
<p>Trần Ngọc Tuấn (17) là một nhà thơ trẻ. Thật đáng ngạc nhiên vì Tập  Suối reo của anh là một tập thơ Thiền. Trong tình hình người trẻ làm thơ  hiện nay, thì sự chọn lựa ấy của Trần Ngọc Tuấn là sự chọn lựa đầy khó  khăn. Trần Ngọc Tuấn không phải là một Thiền sư, anh vẫn đang sống lăn  lộn giữa đời, vì thế Suối Reo là thơ của đời ánh lên sắc Thiền, thơ của  một con người còn đang “qua dốc sương mù”:</p>
<p><em>“Gánh củi qua dốc sương mù<br />
Mồ hôi giọt giọt gió ù ù bay<br />
Nghìn tia nắng dệt trang ngày<br />
Bước chân hoan hỉ, đêm này lửa reo”</em></p>
<p>Sống là gánh lấy bao nhiêu nỗi vất vả như người gánh củi. Ngày đêm  phải vượt qua con dốc sương mù và đương đầu với gió ù ù bay. Nếu nhìn  nhận cuộc đời như thế, tác giả sẽ chuyển bài thơ thành tâm tình thở  than. Thế nhưng Qua Dốc Sương Mù lại rực rỡ ánh sáng của sự thăng hoa.  Đó không phải là thứ ánh sáng thiên nhiên của nghìn tia nắng, hay ánh  sáng của đêm lửa reo , mà là ánh hào quang của Phật. Nỗi vất vả, thống  khổ trở thành con đường hạnh ngộ. Qua dốc sương mù là vượt qua vô minh,  vượt qua khổ (Diệu đế I). Người gánh củi kia toả ánh hào quang của Phật  trong “bước chân hoan hỷ&#8221;. Bài thơ không miêu tả hiện thực gánh củi mà  tả khoảnh khắc chứng ngộ đầy hỷ hoan trong ánh sáng toả ra từ Tâm Bát  Nhã. Hiện thực đuợc nhìn bằng Trí Huệ Bát Nhã (Prajna). Đó là ý nghĩa tư  tưởng của bài thơ.</p>
<p>Người ta có thể hiểu bài thơ khác đi qua cách đọc phản ánh hiện thực.  Bài thơ là cái nhìn lạc quan, là tấm lòng nhân hậu Trần Ngọc Tuấn đối  với người gánh củi. Bài thơ cũng là một bức tranh tả cảnh gánh củi vất  vả, trên nền thiên nhiên rạng rỡ, trong ánh sáng ấm áp của bếp lửa gia  đình do củi mang laị, từ đó nói đến một tiến trình tư tưởng tích cực,  suy từ sự vất vả đến hạnh phúc mà người gánh củi đạt được.</p>
<p>Ở bài thơ này, Trần Ngọc Tuấn chưa đạt đến các nói của Thiền sư. Ngôn  ngữ thơ không phải là kiểu ngôn ngữ vô ngôn của Thiền, vì thế nghĩa tư  tưởng và nghĩa nghệ thuật có thể chồng khít lên nhau, không tinh ý khó  có thể nhận ra ý nghĩa Thiền của bài thơ. Dầu vậy bài thơ cũng có được  những tứ thơ hay và ngôn ngữ nghệ thuật tinh ròng. Sự kết hợp Tứ Tuyệt  với Lục Bát tạo nên màu sắc thẩm mỹ riêng, vừa có cái cô đọng tư tưởng  của Tứ Tuyệt, vừa có cái mền mại thanh thoát của Lục Bát, vừa có sự sang  trọng của tư tưởng vừa có sự dung dị dân dã của hồn thơ.</p>
<p><strong>6. Thơ Thiền Phạm Thiên Thư</strong></p>
<p>Tôi chưa có dịp nói đến những kinh Phật được Phạm Thiên Thư phổ thơ  như Qua Suối Mây Hồng &#8211; Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương), Hội Hoa Đàm &#8211;  Kinh Hiền (thi hóa Kinh Hiền Ngu, 12 ngàn câu lục bát), Suối Nguồn Vi  Diệu &#8211; Kinh Thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú).</p>
<p>Chỉ xin thử đọc một đoạn trong bài Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng của Phạm  Thiên Thư (PTT) xem thơ Thiền của Phạm Thiên Thư có thi vị thế nào. Đặc  sắc thơ PTT là thơ tình có vị Thiền. Điều này lạ. Bởi vì tình là khổ  luỵ. Thiền là cắt đứt nghiệp chướng. PTT đã tạo nên sự kết hợp này thế  nào ? Xin đọc:</p>
<p><em>21</em></p>
<p><em>Em nằm ngó cội thu xanh<br />
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi<br />
Về em vàng phố mây trời<br />
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân</em></p>
<p><em>22</p>
<p></em><em> </em><em>Thì thôi tóc ấy phù vân<br />
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương<br />
Thì thôi mù phố xe đường<br />
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi</em></p>
<p>Nội dung đoạn thơ là câu chuyện tình yêu, là những lời yêu PTT gửi  đến người tình, nhưng những ý tứ Thiền lại hiển lộ rất rõ trong cái  nhìn, trong ngôn ngữ, trong tâm thức nhà thơ : phù vân, sương, mù, đoạn  trường. Trong khổ thơ này PTT không dụng ý thể hiện tư tưởng Thiền, nhà  thơ chỉ mượn từ ngữ, ý tứ để diễn tả tâm trạng yêu. PTT nhìn người yêu  mà suy gẫm, lúc nằm, lúc về, hình hài ấy, dáng vẻ ấy : môi thanh xuân  đào lý đấy, tay đơm muà hè, gót dời hoa xuân. Nhưng mà hiện hữu ấy, tóc  ấy chỉ là phù vân; lệ ấy, dáng ấy mong manh như sương. Em tuy đẹp, tuy  dào dạt đào lý, dào dạt yêu thương trong mắt lệ, em giữa cội thu xanh,  giữa vàng phố mây trời, nhưng chỉ là vô thường, chỉ là khổ (đoạn trường)  chỉ là vô minh(mù), là hư huyễn(phù vân). Trái tim nhà thơ thốt lên nỗi  buồn thương không sao ngăn được. Nhà thơ kêu lên nhiều lần “thì thôi”,  chấp nhận thực tại, để rồi buộc phải nói lời ly tan “thôi thì thôi nhé”.  Bản chất của hiện hữu là thế, và tình yêu, dù thăng hoa đẹp đẽ thế nào  cũng không thoát ra được. Phạm Thiên Thư &#8211; người tình, chỉ còn mong</p>
<p><em>“Mai anh chết dưới cội đào<br />
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu”</em></p>
<p>Thiền vị đem đến những giá trị thẩm mỹ gì cho thơ PTT? Thơ PTT sang  trọng, thanh cao là nhờ ở Thiền Vị. PTT cũng viết về đoạn trường, chia  li, cũng viết về mắt, về môi, về dáng đứng, dáng nằm của người con gái,  nhưng tuyệt nhiên không nhuốm mùi nhục thể, tuyệt nhiên không rực lửa  dục vọng. Cũng là nước mắt, cũng là ly tan, nhưng không có hờn ghen oán  trách tình phụ, không bi luỵ tang thương. Thiền vị làm thăng hoa thơ  tình PTT.</p>
<p>Thật khác xa với cái nhìn tang thương bi đát của Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc:</p>
<p><em>“…Ngọn tâm hoả đốt dầu nét liễu<br />
Giọt hồng băng thấm ráo làn son…<br />
…Nghĩ thân phù thế mà đau,<br />
Bọt trong bể khổ, bèo dầu bến mê…<br />
…Phong trần cả đến sơn khê<br />
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này…”</em></p>
<p>Sự khác biệt ấy là ở chỗ PTT đã “ngộ” được chân lý Thiền, trong khi Nguyễn Gia Thiều còn đang ngụp lặn ở bến mê.</p>
<p>Thật thú vị nếu tiếp tục đi sâu hơn nữa trong việc xem xét ảnh hưởng  của Thiền trong thơ ca. Chẳng hạn Nguyễn Du trong bài Lương Chiêu Minh  thái tử phân kinh thạch đài cho biết ông đã từng đọc hàng ngàn biến kinh  Kim Cang.</p>
<p><em>&#8220;Ngã độc Kim Cang thiên biến linh<br />
Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh<br />
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ<br />
Tài tri vô tự thị chân kinh.”</em></p>
<p>(Ta đọc hơn ngàn biến Kinh Kim Cang, những ý nghĩa sâu kín trong đó  phần nhiều ta không rõ. Đến hôm nay tới đài chia kinh này mới biết rằng  Vô tự chính là Chân kinh.)</p>
<p>Tuy nhiên điều ấy nằm ngoài phạm vi của bài viết này: Một cách tiếp cận thơ Thiền.</p>
<p>Quả là nếu tiếp cận đúng hướng thơ Thiền, người đọc có thể thưởng  thức được những giá trị, những khoái cảm thẩm mỹ đặc biệt mà thơ Thiền  đem lại. Nhìn trong quá trình phát triển, những bài kệ thuần tính cách  nghi lễ, khi được diễn đạt bằng ngôn ngữ hình tượng biểu cảm, đã chuyển  hoá thành thơ. Thơ Thiền của các Thiền sư có sự chuyển hoá ấy. Và khi  Thiền thâm nhập được vào trái tim nhà thơ thế tục, Thiền vị tạo nên cái  đẹp mới lạ trong những áng thơ, có khi đọc không hiểu, song vẫn có thể  cảm nhận được qua hình tượng tư tưởng-thẩm mỹ như thơ Bùi Giáng, Phạm  Thiên Thư. Con đường phát triển ấy còn nhiều hứa hẹn cho thơ ca Việt  Nam.</p>
<p><em> <strong>Bùi Công Thuấn</strong> </em></p>
<hr />(1) Thiền Uyển Tập Anh.</p>
<p>(2), (12), (14) “101 Giai Thoại Thiền” – Thomas Cleary – Nxb Tp Hồ Chí minh 2001. Tr.144.</p>
<p>(3) “Đức Phật Đã Dạy Những Gì” &#8211; Hòa thượng WALPOLA RAHULA &#8211; Thích Nữ Trí Hải dịch -1998.</p>
<p>(4) Bài thuyết pháp thứ 2 của Đức Phật Anattalakkhana Sutta &#8211; Kinh Vô Ngã Tướng.</p>
<p>(5) Thập nhị nhân duyên : Suốt thời gian bảy ngày đầu tiên sau khi  thành đạo, Đức Phật ngồi không lay động dưới tàng cây Bồ Đề. Trong đêm  cuối tuần, Ngài xuất thiền và suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên (Paticca  Samuppada), đó là Vô minh, nghiệp, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ,  Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão, Tử.</p>
<p>(6), (10), (11) Thiền Luận &#8211; SUZUKI.</p>
<p>(7) “Tìm hiểu về Thiền Tông Phật Giáo Trung Hoa” &#8211; Nguyễn Tuệ Chân &#8211; nxb Đà Nẵng 2006.tr34.</p>
<p>(8) “Giới thiệu và giải thích đề kinh Kim Cương Bát Nhã “ -Thích Thái Hòa.</p>
<p>(9) “Giới thiệu Kinh Hoa Nghiêm” &#8211; Hoà Thượng Thích Trí Quảng.</p>
<p>(13) “Thơ văn Lý Trần” – Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường- Nxb Giáo dục 1999.Tr.63.</p>
<p>(15) Đọc thêm: Như Huy – “Thêm hai cách đọc bài thơ / kệ &#8220;Cáo tật thị chúng&#8221; của Mãn Giác Thiền Sư ”  <a rel="nofollow external" href="http://www.tienve.org">www.tienve.org</a></p>
<p>(16) Đọc thêm : Bùi Công Thuấn – “Bùi Giáng, ai người chia sẻ”.</p>
<p>(17) Đọc thêm : Bùi Công Thuấn – “Một mình ra khơi” (về tập Suối Reo  của Trần Ngọc Tuấn, Nxb Hội Nhà Văn 2006). Bài này đã đăng trên Văn Nghệ  Trẻ ngày 28/01/2007.</p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/doc-tho-thien/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phật Mẫu Chuẩn Đề</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/phat-mau-chuan-de/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/phat-mau-chuan-de/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 08 May 2012 15:04:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Phật Giáo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=646</guid>
		<description><![CDATA[Phật Mẫu Chuẩn Đề tên Phạn là Cundì, Cunïdïhi, tên Hán văn là Thất Câu Chi Phật Mẫu hay Thất Câu Đê Phật Mẫu, Chuẩn Đề Bồ Tát. Ngài là một trong lục quan âm của Phật Giáo, trong Tạng Giới Man Đa La ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị Phật Mẫu thuộc [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Phật Mẫu Chuẩn Đề</strong> tên <a title="Tiếng Phạn" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Ph%E1%BA%A1n">Phạn</a> là <strong>Cundì</strong>, <strong>Cunïdïhi</strong>, tên <a title="Hán văn" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1n_v%C4%83n">Hán văn</a> là <strong>Thất Câu Chi Phật Mẫu</strong> hay <strong>Thất Câu Đê Phật Mẫu</strong>, <strong>Chuẩn Đề Bồ Tát</strong>. Ngài là một trong lục quan âm của Phật Giáo, trong Tạng Giới <a title="Man Đa La (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Man_%C4%90a_La&amp;action=edit&amp;redlink=1">Man Đa La</a> ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị Phật Mẫu thuộc Biến Tri Viện</p>
<p><strong>Thân vi phật mẫu</strong></p>
<p><strong></p>
<div id="attachment_644" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/05/phat-ba-chuan-de.jpg"><img class="size-full wp-image-644" title="phat-ba-chuan-de" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/05/phat-ba-chuan-de.jpg" alt="" width="600" height="937" /></a><p class="wp-caption-text">Phat Quan Am Chuan De cua co so Di Da</p></div>
<p></strong></p>
<p>Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết gia  trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên  đầu trang điểm ngọc anh lạc. Đầu đội mão báu có ngọc lưu ly rũ treo, có  18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ  biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì  Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ  mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: <em>Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha</em>.</p>
<p>Hiện thân của Chuẩn Đề Bồ Tát có nhiều hình hài, nhưng chân thân của  Ngài như sau: Bửu tượng của Ngài có nhiều vẻ quang minh tốt đẹp, đều  chiếu diệu cả mình, còn thân tướng thì sắc vàng mà có lằn điển quang  trắng.</p>
<p>Ngài chỉ ngồi kiết già, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều  trọn một sắc trắng mà có bông, lại có đeo chuỗi anh lạc và trên ngực có  hiện ra một chữ “vạn”.</p>
<p>Còn hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ  có xuyến thất châu coi rất xinh lịch, lại hai trái tai có được ngọc bửu  đương và trong các ngón tay đều có đeo vòng nhỏ.</p>
<p>Trên đầu thì đội mão Hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra 5 vị Như Lai.</p>
<p>Nơi mặt Ngài có 3 con mắt, trong mỗi con mắt ấy coi rất sắc xảo,  dường như chăm chỉ ngó các chúng sanh mà có ý sanh lòng từ mẫn vậy.</p>
<p>Toàn thân của Ngài có mười tám cánh tay, mỗi bên chín cánh.</p>
<p>Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn đề, như tướng đương lúc thuyết pháp.</p>
<p>Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt cầm cái thí vô úy.</p>
<p>Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm.</p>
<p>Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu.</p>
<p>Tay trái thứ năm cầm một sợi dây Kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả.</p>
<p>Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa.</p>
<p>Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu.</p>
<p>Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang.</p>
<p>Tay trái thứ chín cầm một cuốn Kinh Bát nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài.</p>
<p>Ngài ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ. Đó là bửu  tượng của Ngài đại lược như vậy, nếu ai có lòng trì niệm, muốn chiêm  vọng và quán tưởng, thì vọng niệm chẳng sanh mà chơn tâm hiển hiện.</p>
<p>Nếu công phu thuần thục lâu rồi, chẳng có chút gì gián đoạn, thì sẽ  đặng phước quả rất rộng lớn, có ngày đạt tới nơi cực quả bồ đề nữa.</p>
<p>Trong <a title="Kim Cương Giới (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kim_C%C6%B0%C6%A1ng_Gi%E1%BB%9Bi&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kim Cương Giới</a> thì Chuẩn Đề được nhận biết dưới danh hiệu Kim Cương Hộ Bồ Tát (Ràksïa Bodhisatva) là một trong 4 vị Bồ Tát thân cận của <a title="Đức Phật Thích Ca" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%A9c_Ph%E1%BA%ADt_Th%C3%ADch_Ca">Đức Phật Thích Ca</a> ở phương Bắc.</p>
<p><strong>Thần chú phật mẫu</strong></p>
<dl>
<dd>
<dl>
<dd>
<dl>
<dd>
<dl>
<dd><em>Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đà câu chi nẫm đát điệt tha</em>
<dl>
<dd>
<dl>
<dd><em>Úm, chiết lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề ta bà ha</em></dd>
</dl>
</dd>
</dl>
</dd>
</dl>
</dd>
</dl>
</dd>
</dl>
</dd>
</dl>
<p>Đức phật chỉ rõ: Nếu có tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào  thọ trì đọc tụng thần chú này mãn 80 vạn biến thì những tội ngũ vô gián  đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay hết thảy đều được tiêu diệt. Sanh ra chỗ  nào cũng gặp chư Phật và Bồ Tát, đời sống tư sanh tùy ý đầy đủ, đời đời  thường được xuất gia, trì đủ luật nghi tịnh giới của Bồ Tát, thường  sanh nhơn thiên, không đọa ác thú, thường được chư thiên thủ hộ. Nếu có  những người tại gia nam nữ thường trì tụng, thì nhà kẻ ấy không có khổ  não tai ương, bịnh khổ. Ra làm việc gì đều được hanh thông, nói ra lời  gì đều được tín thọ.</p>
<p>Nếu tụng thần chú này mãn 10 vạn biến trong chiêm bao thấy được chư  Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tự thấy trong miệng mửa ra vật đen.  Nếu có ngũ nghịch tội thì không được thấy những hảo mộng như vậy. Nên  tụng mãn 70 vạn biến thì sẽ được thấy những tướng như trước cho đến mộng  thấy mửa ra sắc trắng như sữa, cơm, vân vân thời phải biết người đó tội  diệt, được tướng thanh tịnh.</p>
<h2>
<p><div id="attachment_645" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/05/phat-ba-chuan-de1.jpg"><img class="size-full wp-image-645" title="phat-ba-chuan-de1" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/05/phat-ba-chuan-de1.jpg" alt="" width="600" height="1046" /></a><p class="wp-caption-text">Phat Ba Quan Am Chuan De cua co so Di Da</p></div></h2>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/phat-mau-chuan-de/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hạnh Phúc Thay, Đức Phật Đản Sinh</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/hanh-phuc-thay-duc-phat-dan-sinh/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/hanh-phuc-thay-duc-phat-dan-sinh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 27 Mar 2012 07:46:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Phật Giáo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=632</guid>
		<description><![CDATA[Kinh Phật Bản Hạnh Tập kể rằng theo thông lệ xứ Ấn độ cổ đại, người phụ nữ mang thai phải về nhà cha mẹ, nên vào ngày 8 tháng 4, Hoàng hậu Ma-ya trên đường về quê ngoại để chờ ngày khai hoa nở nhụy. Lúc đó, trời trong sáng, nắng ấm chan hoà [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><img src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/03/phat-dan-sinh6.jpg" alt="Tuong Phat Dan Sinh" width="600" height="1261" /><p class="wp-caption-text">Tuong Phat Dan Sinh</p></div>
<p>Kinh Phật Bản Hạnh Tập kể rằng theo thông lệ xứ Ấn độ  		cổ đại, người phụ nữ mang thai phải về nhà cha mẹ, nên vào ngày 8 tháng  		4, Hoàng hậu Ma-ya trên đường về quê ngoại để chờ ngày khai hoa nở nhụy.  		Lúc đó, trời trong sáng, nắng ấm chan hoà và muôn hoa đua nở. Hoàng hậu  		cùng các thị nữ vào nghỉ chân nơi vườn thượng uyển Lâm-tì-ni. Ngay khi  		Hoàng hậu vịn cành hoa vô ưu đang toả hương thơm ngạt ngào, Bồ tát Sĩ  		Đạt Đa thị hiện đản sanh ra đời. Ngài tươi sáng, nhẹ nhàng, thánh thoát  		đi bảy bước trên mặt đất ấm áp. Lạ thay! Dưới mỗi bước chân ngài đều có  		những hoa sen đở gót chân hồng. Rồi ngài ngẩng nhìn bốn phương và cất  		tiếng sư tử hống vang khắp trời người:</p>
<p>“<em>Trên trời dưới đất chỉ có cái Ta chân thật là  		đáng quý</em>.”</p>
<p>Trời quang mây tạnh thoang thoảng có mưa nước tám  		công đức. Đại địa sáu cách chấn động. Ngay khi ấy tự nhiên muôn loài  		không tham, sân, si. Những bịnh hoạn đói khát như được quên đi. Hôn mê  		sực tỉnh, điên dại trở về chân chánh. Ai nấy sáu căn cảm thấy thoải mái.  		Địa ngục tối tăm đau khổ như được nghỉ ngơi. Bàng sanh nhút nhát như  		thoát khỏi sợ hãi. Ngạ quỷ đói khát tự thấy no đủ mát vui. Tất cả như  		được hưởng sự an lạc, hạnh phúc từ ngài toả ra.</p>
<p>Sau đó, vua Tịnh Phạn mời Tiên A-Tư-Đà vào xem tướng  		Bồ Tát. Tiên thưa rằng Bồ tát trưởng thành sẽ xuất gia học đạo, quyết  		định thành Phật, chuyển đại pháp luân, độ trời người vô số kể. Bởi vì Bồ  		tát có 80 tùy hình hảo và 32 đại hảo tướng.  Những tướng như thế không  		phải của Chuyển Luân Thánh Vương mà là tướng của Phật. Tôi tự buồn và  		thương cho mình không được sống đến lúc đó để được nghe Phật thuyết pháp.  		Tiên A-Tư-Đà đã vật mình xuống đất và khóc nức nở.</p>
<p>Vua Tịnh Phạn nghe xong, liền phóng thích các tù nhân,  		phóng sinh các cầm thú, cúng dường các Bà-la-môn, tháp miếu, làm đủ  		phước thiện và bố thí người nghèo để ghi nhớ ngày 8 tháng 4, cõi ta bà  		có được phúc báo bậc thánh nhân giáng thế.</p>
<div class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><img title="Tuong Phat Dan Sinh" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/03/phat-dan-sinh9.jpg" alt="Tuong Phat Dan Sinh" width="600" /><p class="wp-caption-text">Tuong Phat Dan Sinh</p></div>
<p>Bồ tát đã ra đời vì mục đích trọng đại chỉ “cái Ta  		chân thật” tức chân tâm kiến tánh, bồ đề Niết bàn, diệu chân như tánh mà  		trong các kinh đại thừa như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm đã đề cập. Nếu cõi đời  		không có đau khổ, tham dục, ganh ghét, chiến tranh, hận thù, tai biến  		tối tăm thì ngài đã chẳng xuất hiện ra đời. Hạnh phúc thay, đức Phật đã  		giáng sinh thế giới này để mang đuốc bồ đề soi đường giác ngộ cho chúng  		ta trở về “cái Ta chân thật”. Hạnh phúc thay, Tam tạng kinh điển của  		ngài vẫn còn đó dưới nhiều phương tiện truyền bá (the communication by  		mass media) nhanh chóng, hiện đại và đầy hiệu quả. Hạnh phúc thay, chư  		tăng xuất thế giữ chí nguyện dòng Thích Tử cao thượng. Hạnh phúc thay,  		Phật tử bốn giới cùng nhau tu học, ngược dòng tự ngã trở về “cái Ta chân  		ngã”. Hạnh phúc thay, xuất gia tại gia một lòng kính thờ Tam Bảo, nguyên  		dâng cho đời nhiều đóa sen hồng thanh khiết.</p>
<p>Mừng mồng tám tháng tư Ngày Phật Đản, chúng con  		nguyện sẽ trân quý những điều hy hữu, thắng duyên mà chúng con đang  		hưởng và có được:</p>
<p>&#8220;Hạnh phúc thay, đức Phật giáng sinh!<br />
Hạnh phúc thay, giáo pháp cao minh!<br />
Hạnh phúc thay, chúng Tăng hòa hợp!<br />
Hạnh phúc thay, tứ chúng đồng tu!&#8221;</p>
<p>Nam Mô Cam Giá Nguyên Lưu, Ứng Thân Hiện Thoại,</p>
<p>Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.</p>
<div class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><img title="Tuong Phat Dan Sinh" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/03/phat-dan-sinh8.jpg" alt="Tuong Phat Dan Sinh" width="600" height="1467" /><p class="wp-caption-text">Tuong Phat Dan Sinh</p></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/hanh-phuc-thay-duc-phat-dan-sinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ sao lớn nhất</title>
		<link>http://www.tuonggodida.com/tuong-bo-de-dat-ma-bang-go-sao-lon-nhat/</link>
		<comments>http://www.tuonggodida.com/tuong-bo-de-dat-ma-bang-go-sao-lon-nhat/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 10 Mar 2012 00:52:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tuonggodida.com/?p=616</guid>
		<description><![CDATA[Chùa Linh Phước xác lập hai kỷ lục về Tượng Bồ Đề Đạt Ma và Khổng Tước Vương bằng gỗ sao lớn nhất. Vào ngày 31/12/2011, Tổ chức kỷ lục Việt Nam đã công bố và xác lập hai kỷ lục Tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ sao lớn nhất và tượng Khổng Tước [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Chùa Linh Phước xác lập hai kỷ lục về Tượng Bồ Đề Đạt Ma và Khổng Tước Vương bằng gỗ sao lớn nhất.</strong></p>
<p>Vào ngày 31/12/2011, Tổ chức kỷ lục Việt Nam đã công bố và xác lập  hai kỷ lục Tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ sao lớn nhất và tượng Khổng Tước  Vương (chim công) bằng gỗ sao lớn nhất cho Chùa Linh Phước (Đà Lạt).</p>
<p>Chùa Linh Phước tọa lạc ở số 120 khóm Tự Phước, phường 11, thành phố  Đà Lạt, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 8km dọc theo quốc lộ 20. Chùa  được khởi công xây dựng vào năm 1949 đến năm 1952 hoàn thành, do Phật tử  địa phương đóng góp xây dựng.</p>
<p>Trong khuôn viên chùa an vị một tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ sao cao  7,5m, ngang từ 1,6m đến 2,5m, nặng 7 ngàn kg do 6 nghệ nhân tạo tác  trong 6 tháng. Đây là gốc thân của một cây sao có tuổi khoảng trên 300  năm. An vị tượng Bồ Đề Đạt Ma cho thấy lòng sùng mộ một vị Sư tổ đã vượt  muôn nẻo đường truyền đạo Phật đến Trung Hoa và các nước phương Đông.  Đồng thời, tạo cho chùa Linh Phước thêm nét tâm linh đặc sắc, vì tượng  Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ sao đem đến lòng kính ngưỡng của thiện nam tín nữ  với một vị tổ của Phật giáo.</p>
<div id="attachment_617" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/03/tuong-dat-ma-cao-nhat.jpg"><img class="size-full wp-image-617" title="tuong-dat-ma-cao-nhat" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/03/tuong-dat-ma-cao-nhat.jpg" alt="Tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ sao lớn nhất" width="600" height="894" /></a><p class="wp-caption-text">Tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ sao lớn nhất</p></div>
<p>Bồ Đề Đạt Ma vốn có tên tục là Bồ Đề Đa La, là con trai thứ ba của  quốc vương nước Hương Chí, nam Thiên Trúc. Một lần, vị tổ thứ 27 của nhà  Phật là Bát Nhã Đa La đến nước Hương Chí, gặp Bồ Đề Đạt Ma, thấy vị  vương tử này có nhiều nét đặc biệt, mới bảo cùng hai anh của mình bàn  luận về chữ Tâm. Bát Nhã Đa La thấy Bồ Đề Đa La là người có ngộ tính,  nhỏ tuổi nhưng đã nói được điểm quan trọng của chữ Tâm, Sau nhiều năm tu  hành, với trí thông minh và ngộ tính tuyệt vời của mình, Bồ Đề Đạt Ma  được Bát Nhã Đa La lựa chọn là người kế thừa của mình, trở thành vị tổ  thứ 28 của Phật giáo trên đất Thiên Trúc.</p>
<p>Cùng ngày, Tổ chức kỷ lục Việt Nam cũng công bố và xác lập kỷ lục  tượng Khổng Tước Vương (chim công) bằng gỗ sao lớn nhất cho Chùa Linh  Phước.</p>
<p>Khổng Tước Vương là tên chữ của chim công với ý nghĩa là vua của các  loài chim. Từ một gốc thân gỗ sao, 8 nghệ nhân đã khéo léo tạo tác nên  Khổng Tước Vương cao 7m, rộng 7m nặng 6 ngàn kg. Đây là tác phẩm mỹ  thuật do các nghệ nhân chùa Linh Phước tạo tác và Công ty cổ phần thương  mại quốc tế D&amp;S cúng dường. Tác phẩm Khổng Tước Vương đặt trong  khuôn viên chùa trở thành một tác phẩm mỹ thuật ý nghĩa tạo nên một cảnh  quan thấm được triết lý nhà Phật không chỉ cho các Phật tử mà còn cả  các du khách khi đến chùa chiêm bái.</p>
<div id="attachment_618" class="wp-caption aligncenter" style="width: 413px"><a href="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/03/1325724558-ky-luc-2.jpg"><img class="size-full wp-image-618" title="Khổng Tước Vương bằng gỗ sao lớn nhất" src="http://www.tuonggodida.com/wp-content/uploads/2012/03/1325724558-ky-luc-2.jpg" alt="Khổng Tước Vương bằng gỗ sao lớn nhất" width="403" height="600" /></a><p class="wp-caption-text">Khổng Tước Vương bằng gỗ sao lớn nhất</p></div>
<p>Vì cùng với các loài chim Bạch hạc, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng Tần già,  Cộng mạng&#8230; Khổng Tước là một trong những loại chim có màu sắc đẹp,  giọng hót hay và quý hiếm. Các loài chim này được đề cập đến trong kinh  Phật, ngày đêm hót lên những pháp âm vi diệu khiến người nghe phát tâm  niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng</p>
<p>Kỷ lục được công bố và xác lập vào 10h ngày 31/12/2011.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tuonggodida.com/tuong-bo-de-dat-ma-bang-go-sao-lon-nhat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
